🔍
Chuyên mục: Quản lý - Quy hoạch

Xác lập cơ chế, chính sách đột phá đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt

11 giờ trước
Sáng nay, 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, với 465/474 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 93% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Luật Phát triển đô thị.

Luật Phát triển đô thị vừa được Quốc hội thông qua quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển TP là đô thị loại đặc biệt, TP khác và khu kinh tế đặc biệt.

TP Hồ Chí Minh, TP khác là đô thị đặc biệt được áp dụng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại Luật này. TP Hà Nội thực hiện theo quy định tại Luật Thủ đô.

TP không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này được áp dụng một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại Luật này, trừ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 16 và Mục 7 Chương II của Luật này.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026, trừ nội dung quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026. Kể từ ngày Luật này được thông qua, TP Hồ Chí Minh thực hiện việc xây dựng, ban hành văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị theo quy định tại Luật này.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Phát triển đô thị trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã nghiêm túc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, định hướng của Đảng, xác lập các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng, TP khác, khu kinh tế đặc biệt và đầu tư xây dựng dự án khu đô thị lấn biển; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” và phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Việc chỉnh lý dự thảo Luật được thực hiện trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, đổi mới tư duy lập pháp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với năng lực, điều kiện bảo đảm thực hiện và trách nhiệm giải trình; phát huy tiềm năng, lợi thế của các địa phương phù hợp với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, tạo không gian phát triển với tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

Về một số nội dung lớn được tiếp thu, chỉnh lý, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (khoản 6 Điều 1), dự thảo Luật bổ sung điều kiện “phải có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” và giới hạn phạm vi của việc thí điểm cơ chế, chính sách là “để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội” nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo đảm yêu cầu kiểm soát quyền lực trong việc Chính phủ ban hành Nghị định thí điểm cơ chế, chính sách khác hoặc chưa được quy định trong Luật Phát triển đô thị, văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội để áp dụng đối với TP chưa được công nhận là đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt nhằm thống nhất cách hiểu và bảo đảm tính khả thi trong áp dụng các quy định của Luật.

Về quyết định tổng số lượng biên chế (điểm k khoản 1 Điều 6), dự thảo Luật bổ sung trường hợp loại trừ “có quyết định khác của cấp có thẩm quyền” và bổ sung cụm từ “bảo đảm yêu cầu khối lượng công việc thực tế” nhằm chặt chẽ hơn về tiêu chí, điều kiện quyết định tổng số lượng biên chế và bảo đảm tính bao quát, ổn định trong quy định của Luật khi có chủ trương mới của cấp có thẩm quyền liên quan đến quản lý, quyết định tổng biên chế và quyết định giao biên chế theo nhiệm kỳ cho các địa phương.

Về xã hội hóa hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính (Điều 9), dự thảo Luật bổ sung nguyên tắc “bảo đảm quyền lựa chọn của cá nhân, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính”.

Về quy hoạch (điểm a khoản 2 Điều 10 và điểm d khoản 1 Điều 45), dự thảo Luật bổ sung thẩm quyền của HĐND TP trong việc điều chỉnh cục bộ Quy hoạch tổng thể TP, bảo đảm yêu cầu thống nhất quản lý nhà nước về quy hoạch, sự kết nối giữa Quy hoạch của TP với quy hoạch ở khu kinh tế đặc biệt trong trường hợp khu kinh tế đặc biệt nằm trên địa bàn TP.

Về phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (Điều 24), dự thảo Luật đã được tiếp thu, chỉnh lý tên gọi của Điều thành “Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam” để làm rõ mục tiêu điều chỉnh vấn đề này trong dự thảo Luật với Nghị quyết số 222/2025/QH15; điều chỉnh thẩm quyền quy định “điều kiện, trình tự, thủ tục cấp phép thành lập ngân hàng có hoạt động ngân hàng đầu tư tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, phát hành sản phẩm tài chính quốc tế thông qua Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam” từ Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại TP sang HĐND TP và bổ sung điều kiện phải có ý kiến của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Đồng thời, bổ sung quy định Thành viên Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ hỗ trợ khác tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức trong nước để giao dịch, thu hút vốn quốc tế trên cơ sở tuân thủ đúng và đầy đủ quy định về quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và quản lý nợ công.

TIN LIÊN QUAN
























































Home Icon VỀ TRANG CHỦ