🔍
Chuyên mục: Kinh tế

3 cơ chế chuyển giao tín chỉ các-bon quốc tế theo Nghị định số 112/2026/NĐ-CP

1 giờ trước
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026, mở ra 3 phương án để doanh nghiệp Việt Nam trao đổi, chuyển giao tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế, gồm cơ chế song phương theo Điều 6.2, cơ chế tập trung toàn cầu theo Điều 6.4 Thỏa thuận Paris và cơ chế theo các tiêu chuẩn các-bon độc lập.

Theo ông Nguyễn Thành Công - Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường), khi một nhà đầu tư quyết định phát triển dự án tạo tín chỉ các-bon, việc xác định rõ đầu ra là yếu tố tiên quyết. Bên cạnh thị trường các-bon trong nước, các dự án còn có phương án trao đổi kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon với các đối tác quốc tế.

Khi tham gia trao đổi trên thị trường quốc tế, cần phân biệt rõ hai khái niệm cơ bản: trao đổi có sự chấp thuận của Chính phủ (Chính phủ Việt Nam có trách nhiệm thực hiện điều chỉnh tương ứng, tức là hạch toán hoặc khấu trừ khỏi mục tiêu Đóng góp do quốc gia tự quyết định - NDC) và trao đổi quốc tế không cần sự chấp thuận của Chính phủ (khi các tín chỉ này giao dịch ra quốc tế, kết quả giảm phát thải vẫn được tính vào mục tiêu NDC của Việt Nam và Chính phủ không phải hạch toán trừ đi).

Ông Công cho biết, xuất phát từ thực tiễn và các quy định của Thỏa thuận Paris, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP nhằm quản lý các hoạt động trao đổi, chuyển giao tín chỉ các-bon với đối tác quốc tế. Theo Nghị định, có 3 phương án chuyển giao quốc tế để doanh nghiệp chủ động lựa chọn: cơ chế hợp tác song phương theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris; cơ chế tập trung toàn cầu theo Điều 6.4 Thỏa thuận Paris và cơ chế theo các tiêu chuẩn cácbon độc lập.

Điều 6.2 đề cập về hợp tác giữa các quốc gia, trong khi đó, Điều 6.4 lại tập trung vào chất lượng của từng dự án các-bon.

Trả lời câu hỏi nên ưu tiên số lượng tín chỉ hay chất lượng tín chỉ, các chuyên gia tại diễn đàn cho rằng việc lựa chọn một trong hai là vô cùng khó khăn.

Nếu ưu tiên “tính toàn vẹn” một cách quá mức, rào cản đối với việc phát triển dự án có thể trở nên quá cao, khiến các bên liên quan tại địa phương không thể triển khai dự án, và khi đó việc tạo ra tín chỉ sẽ trở nên bất khả thi. Ngược lại, nếu ưu tiên “số lượng” và tạo ra các tín chỉ chất lượng thấp, thị trường có thể đánh giá chúng là quá rủi ro để mua; khi đó, ngay cả khi tín chỉ được phát hành, vẫn không thể tạo ra lợi ích tài chính thực tế.

Do đó, theo các chuyên gia trong lĩnh vực này, cần tập trung vào việc duy trì một cách tiếp cận cân bằng, phát triển dự án một cách linh hoạt đồng thời liên tục trao đổi với các nhà đầu tư quốc tế. Ngoài ra, thay vì chỉ xem các doanh nghiệp đầu tư đơn thuần là nguồn vốn, nên nhìn nhận họ với vai trò đồng phát triển dự án.

Các ý kiến tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026 cũng cho rằng, trong bối cảnh các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) và Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đang từng bước thiết lập các quy tắc xuyên biên giới cho thị trường các-bon, việc sớm đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế sẽ có lợi hơn, giúp bảo đảm các tín chỉ các-bon được tạo ra tại Việt Nam được công nhận và đánh giá từ góc độ toàn cầu.

Nhằm hệ thống hóa các yêu cầu, quy định được nêu trong Nghị định số 112/2026/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan theo cách dễ hiểu, dễ áp dụng, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) đang xây dựng Sổ tay hướng dẫn tham gia thị trường các-bon. Sổ tay hướng tới nhiều nhóm đối tượng, từ chủ dự án, cơ quan quản lý, tổ chức tài chính đến người mua, người bán tín chỉ các-bon, nhằm hướng dẫn các bên tra cứu quy định, chuẩn bị hồ sơ và đưa ra quyết định trong quá trình phát triển, mua bán tín chỉ các-bon.

Tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026, ông Neeraj Joshi - Chuyên gia trưởng Biến đổi khí hậu, Khối Tư vấn cải cách và Nghiên cứu kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương tại IFC cho biết, một trong những nội dung quan trọng là xác định mức độ phù hợp của các dự án giảm phát thải với NDC.

Ông Neeraj Joshi lưu ý về tính tương ứng, yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển giao tín chỉ và hiệu quả tài chính của dự án. Theo hướng dẫn, quy trình phát triển một dự án các-bon có thể khái quát thành 9 bước, từ đánh giá tính khả thi, xây dựng đường cơ sở, xác định tính bổ sung, lập hồ sơ, lựa chọn đơn vị đánh giá độc lập, đăng ký, giám sát, thẩm tra đến phát hành tín chỉ và xin chấp thuận chuyển giao.

Đáng chú ý, tính bổ sung và tính bền vững được xác định là hai yêu cầu quan trọng. “Dự kiến sẽ có thêm các ngành, lĩnh vực tham gia, tạo thêm dư địa cho thị trường, hợp tác quốc tế” - đại diện IFC chia sẻ./.

Ngọc Lan

TIN LIÊN QUAN











































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ