🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Mở cơ hội thị trường tín chỉ carbon cho ngành cao-su

1 giờ trước
Chiều 11/8, Hiệp hội Cao-su Việt Nam (VRA), Forest Trends và Mạng lưới Cao-su thiên nhiên bền vững tổ chức hội thảo trực tuyến “Cơ hội thị trường tín chỉ carbon đối với ngành cao-su Việt Nam”, nhằm cập nhật chính sách, cơ chế thị trường và nhận diện những cơ hội, vướng mắc từ thực tiễn doanh nghiệp.

Khai thác mủ cao-su ở Điện Biên. (Ảnh: nhandan.vn)

Tại hội thảo, các đại biểu cho biết thị trường carbon hiện gồm thị trường tuân thủ, thị trường tự nguyện và các cơ chế hợp tác quốc tế. Trong đó, thị trường tuân thủ phát sinh từ nghĩa vụ pháp lý; thị trường tự nguyện dựa trên nhu cầu chủ động mua, sử dụng tín chỉ carbon của doanh nghiệp, tổ chức...

Tại Việt Nam, khung chính sách về thị trường carbon nói chung và carbon rừng nói riêng đang từng bước được hoàn thiện. Các quy định liên quan đến dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, sàn giao dịch carbon trong nước, trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon đang được xây dựng, triển khai.

Theo bà Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện có hai hướng chính để thương mại hóa tín chỉ carbon là giao dịch quốc tế và giao dịch trong nước. Trên thị trường quốc tế, việc chuyển giao tín chỉ có thể thực hiện thông qua cơ chế hợp tác giữa các quốc gia theo Điều 6 Thỏa thuận Paris hoặc tham gia các tiêu chuẩn carbon tự nguyện. Đối với thị trường trong nước, Việt Nam đã quy định cơ chế trao đổi, mua bán và bù trừ hạn ngạch phát thải; sàn giao dịch carbon trong nước được khởi động từ cuối tháng 6/2026.

Đối với ngành cao-su, các chuyên gia nhận định đây là lĩnh vực có tiềm năng tham gia thị trường carbon nhờ chu kỳ sinh trưởng dài, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon. Tuy nhiên, hiệu quả carbon cần được đánh giá trên toàn bộ chuỗi sản xuất, từ trồng, chăm sóc, khai thác đến vận chuyển và chế biến.

Do đó, giải pháp carbon đối với ngành cao-su cần kết hợp giảm phát thải và tăng hấp thụ, thông qua tối ưu hóa sử dụng phân bón, nhiên liệu, phương thức canh tác, vận chuyển, chế biến hoặc bổ sung cây gỗ tại những khu vực phù hợp.

Từ thực tiễn doanh nghiệp, Thạc sĩ Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học-Công nghệ, Tổng công ty Cao-su Đồng Nai (DONARUCO), cho biết doanh nghiệp đang quản lý khoảng 31.000ha cao-su, trong đó hơn 9.000ha đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn VFCS/PEFC.

Ngành cao-su có lợi thế về chu kỳ kinh doanh dài, khoảng 25-30 năm, sinh khối lớn và có gỗ thương phẩm vào cuối chu kỳ. Các doanh nghiệp cũng đã tích lũy hệ thống dữ liệu về lô trồng, tuổi cây, giống, phân bón, nhiên liệu và sản lượng trong nhiều năm. Cùng với đó, yêu cầu về dấu chân carbon của khách hàng quốc tế, EUDR và các cam kết Net Zero trong chuỗi cung ứng đang tạo thêm động lực để doanh nghiệp quan tâm đến thị trường carbon.

Tuy nhiên, theo ông Hoàng Bảo Luân, việc triển khai dự án tín chỉ carbon đang đặt ra nhiều vấn đề cần được làm rõ. Trước hết là tư cách pháp lý và phân loại đất. Phần lớn diện tích cao-su của DONARUCO được Nhà nước cho thuê để trồng cây lâu năm, không phải đất lâm nghiệp. Do đó, cần xác định vườn cao-su trên đất trồng cây lâu năm có thuộc đối tượng phù hợp với phương pháp cải thiện quản lý rừng (IFM-P) hay không, đồng thời làm rõ doanh nghiệp thuê đất có đủ tư cách đăng ký dự án carbon rừng.

Rủi ro từ quy hoạch sử dụng đất cũng là vấn đề được doanh nghiệp quan tâm. Một số diện tích cao-su có thể được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong khi dự án tín chỉ carbon thường yêu cầu thời gian duy trì dài. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm đối với lượng tín chỉ đã phát hành, chuyển giao trong trường hợp diện tích dự án bị thu hồi hoặc thay đổi mục đích sử dụng.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tính toán kỹ hiệu quả kinh tế. Việc xây dựng dự án tín chỉ carbon đòi hỏi nhiều khâu như lựa chọn tiêu chuẩn, xây dựng văn kiện dự án, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh và cấp tín chỉ. Chi phí có thể trở thành rào cản, nhất là với các dự án quy mô nhỏ.

Doanh nghiệp cũng đặt vấn đề về tính bổ sung của dự án. Khi nhiều biện pháp sản xuất bền vững đã trở thành quy trình thường xuyên, cần xác định rõ phần can thiệp mới, tăng thêm so với kịch bản cơ sở để có thể tạo tín chỉ carbon.

Tại hội thảo, các đại biểu nhận định, tín chỉ carbon có thể mở thêm nguồn tài chính cho ngành cao-su, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững của thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành giá trị thực tế, các dự án cần được đánh giá đồng thời về pháp lý, kỹ thuật, tính bổ sung và hiệu quả kinh tế.

Trước mắt, doanh nghiệp cần hoàn thiện dữ liệu về diện tích, hiện trạng cây trồng, sinh khối và phát thải; đánh giá khả năng duy trì dự án, chi phí đo đạc, thẩm định, xác minh trước khi đầu tư. Ở cấp ngành, việc xây dựng cơ sở dữ liệu, hướng dẫn kỹ thuật và hệ số sinh khối, hệ số phát thải phù hợp với đặc thù cây cao su sẽ góp phần giảm chi phí, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia hiệu quả thị trường carbon.

THANH TRÀ

TIN LIÊN QUAN



































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ