🔍
Chuyên mục: Kinh tế

TP. Hồ Chí Minh đón cơ hội phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng

2 giờ trước
TP. Hồ Chí Minh có cơ hội khai thác hiệu quả hơn giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng khi sở hữu hệ sinh thái rừng đa dạng, đặc biệt là rừng ngập mặn Cần Giờ có tiềm năng hấp thụ, lưu giữ carbon lớn.

Trong bối cảnh Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT và Nghị định số 180/2026/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, thành phố được đánh giá có nhiều điều kiện để phát triển các dự án tín chỉ carbon rừng, góp phần thúc đẩy hình thành thị trường carbon tại Việt Nam.

* Tiềm năng từ TP. Hồ Chí Minh

Việc điều chỉnh địa giới hành chính đã mở rộng quy mô tài nguyên rừng của TP. Hồ Chí Minh, tạo thêm dư địa phát triển các dự án tín chỉ carbon. Bên cạnh Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ, thành phố hiện quản lý thêm diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, phòng hộ môi trường và hấp thụ carbon.

Rừng ngập mặn Cần Giờ có tiềm năng lớn để phát triển các dự án tín chỉ carbon theo Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN

TS. Huỳnh Đức Hoàn, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng TP. Hồ Chí Minh cho biết, đây là lợi thế quan trọng để Thành phố từng bước tham gia thị trường tín chỉ carbon. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành nguồn lực phát triển, điều kiện tiên quyết là phải chuẩn hóa dữ liệu tài nguyên rừng và xây dựng hệ thống quản lý đáp ứng các yêu cầu của thị trường carbon.

Theo đó, Thành phố cần rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu rừng theo mô hình quản lý mới; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, ảnh viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các công cụ giám sát hiện đại nhằm theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, phục vụ tính toán và kiểm chứng lượng carbon hấp thụ.

Cùng với đó là xây dựng đường cơ sở, xác định trữ lượng carbon và lựa chọn những khu vực có tiềm năng để triển khai dự án thí điểm, trong đó rừng ngập mặn Cần Giờ được đánh giá có nhiều lợi thế.

Để các dự án carbon rừng được thị trường chấp nhận, theo TS. Huỳnh Đức Hoàn, dữ liệu phải đầy đủ, chính xác và có thể kiểm chứng độc lập. Các đơn vị quản lý rừng không chỉ cần xác định rõ diện tích, trạng thái, trữ lượng carbon mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn về đo đạc, báo cáo và kiểm chứng (MRV). Đây cũng là lĩnh vực mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản về lâm nghiệp, biến đổi khí hậu và tài chính carbon.

Bên cạnh đó, TP. Hồ Chí Minh cần tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế để tiếp cận công nghệ, kinh nghiệm xây dựng dự án carbon. Khi thị trường hình thành, nguồn thu từ tín chỉ carbon cần được ưu tiên tái đầu tư cho bảo vệ, phục hồi rừng và hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng tham gia giữ rừng, tạo động lực lâu dài cho công tác quản lý tài nguyên rừng.

Ông Lê Châu Hải Vũ, chuyên gia phát triển bền vững, Giám đốc Công ty Tư vấn doanh nghiệp ConsulTech, đánh giá TP. Hồ Chí Minh còn có lợi thế nhờ vị thế trung tâm kinh tế, tài chính lớn nhất cả nước, thuận lợi kết nối với các quỹ đầu tư xanh và doanh nghiệp có nhu cầu bù đắp phát thải. Thành phố nên sớm số hóa bản đồ trữ lượng carbon rừng ngập mặn, nghiên cứu cơ chế thí điểm giao dịch carbon và có chính sách hỗ trợ nguồn vốn xanh cho các đơn vị tiên phong triển khai dự án.

* Hoàn thiện nền tảng thị trường

Để những lợi thế trên được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, điều kiện quan trọng nhất là hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc định giá và giao dịch tín chỉ carbon rừng. Đây cũng là khoảng trống tồn tại nhiều năm qua khi việc xác định giá trị dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng chủ yếu dựa vào đàm phán hoặc tham chiếu giá quốc tế, chưa có căn cứ thống nhất.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ là nền tảng để triển khai định giá và giao dịch tín chỉ carbon theo quy định mới. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thông tư số 31 được ban hành nhằm khắc phục những bất cập của Thông tư số 20/2023/TT-BNNPTNT về phương pháp định giá rừng, đồng thời cụ thể hóa quy định của Nghị định số 180/2026/NĐ-CP.

Điểm mới quan trọng là lần đầu quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng theo hai phương pháp là chi phí và so sánh. Mức chi trả cao hơn giữa hai phương pháp sẽ được sử dụng làm cơ sở đàm phán hoặc giao dịch trên sàn carbon; trường hợp không phát sinh giao dịch trong 12 tháng liên tục sẽ được điều chỉnh theo giá bình quân của ba dự án carbon rừng đã giao dịch gần nhất.

TS. Huỳnh Đức Hoàn cho rằng, việc ban hành Thông tư số 31 đã tháo gỡ nút thắt lớn nhất trong phát triển các dự án carbon rừng khi tạo cơ sở khoa học và pháp lý để xác định giá trị dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon một cách minh bạch. Quan trọng hơn, giá trị môi trường của rừng từng bước được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, giúp các chủ rừng có thêm cơ sở huy động nguồn lực xã hội, tham gia chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và giao dịch tín chỉ carbon khi thị trường trong nước hình thành.

Ông Lê Châu Hải Vũ nhận định, Thông tư số 31 là bước ngoặt quan trọng trong chuẩn hóa phương pháp định giá, tạo sự minh bạch cho các giao dịch tín chỉ carbon rừng, đồng thời biến sinh khối rừng thành tài sản có giá trị kinh tế. Đây cũng là cơ sở để thu hút dòng vốn đầu tư xanh và khuyến khích doanh nghiệp chủ động tham gia các hoạt động giảm phát thải.

Tuy nhiên, để thị trường vận hành hiệu quả cần đồng thời hoàn thiện ba điều kiện cốt lõi gồm số hóa dữ liệu rừng trên nền tảng bản đồ số; chuẩn hóa hệ thống đo đạc, báo cáo và kiểm chứng theo tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời xây dựng cơ chế giao dịch thông thoáng giữa Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng với các sàn giao dịch carbon. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian thẩm định mà còn nâng cao tính minh bạch và sức hấp dẫn của các dự án carbon rừng đối với nhà đầu tư.

Theo các chuyên gia, Thông tư số 31 cùng Nghị định số 180 đã hoàn thiện thêm hành lang pháp lý cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, tạo nền tảng để hình thành thị trường tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam.

Với lợi thế về tài nguyên rừng cùng vai trò trung tâm kinh tế, tài chính của cả nước, TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng sẽ là một trong những địa phương tiên phong triển khai các dự án tín chỉ carbon. Việc tận dụng hiệu quả cơ chế mới sẽ giúp thành phố huy động thêm nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, thúc đẩy tăng trưởng xanh, góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” và tạo động lực cho thị trường carbon phát triển trong giai đoạn tới.

Hồng Đạt/vnanet.vn

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ