🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Mở rộng chuỗi giá trị dầu khí phải gắn với kiểm soát chặt chẽ

1 giờ trước
Thảo luận tại Tổ 7 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng) về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), các ĐBQH đề nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh để thích ứng với xu hướng chuyển dịch năng lượng, phát triển năng lượng ngoài khơi và hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon; đồng thời, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, hoàn thiện cơ chế quản lý chi phí và tín chỉ carbon, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại tổ

Phân quyền phải gắn với trách nhiệm giải trình

Góp ý về dự án Luật, ĐBQH Phạm Thị Hồng Yến (Lâm Đồng) cho rằng, dự thảo cần tiếp tục tạo điều kiện cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, thích ứng với xu hướng chuyển dịch năng lượng; thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị dầu khí và năng lượng ngoài khơi gắn với dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao.

Liên quan đến khái niệm “chuỗi giá trị dầu khí” tại khoản 8 Điều 3, đại biểu đề nghị bỏ cụm từ “có thể”, quy định theo hướng khẳng định chuỗi giá trị dầu khí bao gồm các hoạt động liên kết chặt chẽ như điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí gắn với vận chuyển, tồn trữ, xử lý, chế biến dầu khí, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon và năng lượng ngoài khơi.

ĐBQH Phạm Thị Hồng Yến (Lâm Đồng) phát biểu

Theo đại biểu, hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon và năng lượng ngoài khơi cũng có các công đoạn điều tra, vận chuyển, tồn trữ, xử lý tương tự hoạt động dầu khí, chỉ khác về đối tượng. Vì vậy, cần nghiên cứu thay khái niệm “điều tra cơ bản về dầu khí” bằng “điều tra cơ bản trong chuỗi giá trị dầu khí"; qua đó, mở rộng phạm vi điều tra cơ bản đối với các đối tượng không chỉ giới hạn ở dầu khí.

Từ cách tiếp cận này, đại biểu đề nghị cân nhắc sửa phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 theo hướng Luật quy định về chuỗi giá trị dầu khí trên đất liền, hải đảo và vùng biển của Việt Nam, bao hàm điều tra cơ bản, hoạt động dầu khí và các hoạt động có liên quan trong chuỗi giá trị dầu khí.

Còn theo ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An), các nội dung sửa đổi lần này nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển ngành dầu khí; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Dầu khí năm 2022.

Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất với các luật có liên quan, như: Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Điện lực, Luật Bảo vệ môi trường, các luật về thuế và Luật Ngân sách nhà nước...

Về phân quyền, giao quyền và vai trò của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, đại biểu cho biết: dự thảo Luật tăng thẩm quyền cho Tập đoàn trong một số khâu chuyên môn, kỹ thuật, phê duyệt và quản lý hợp đồng dầu khí.

Quy định này nhằm tạo thuận lợi, tăng tính chủ động cho doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong ngành dầu khí. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị xác định rõ vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu và vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động dầu khí, bảo đảm không phát sinh tình trạng doanh nghiệp vừa tham gia hoạt động kinh doanh, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An) phát biểu

"Trường hợp giao Tập đoàn quyết định hoặc chấp thuận một số nội dung về kỹ thuật, dự thảo cần quy định rõ phạm vi, điều kiện, tiêu chí, trách nhiệm giải trình, cơ chế kiểm tra, giám sát và hậu kiểm, phù hợp với mô hình tổ chức hiện hành... Đồng thời, cần làm rõ cơ chế kiểm soát và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc giao thẩm quyền cho Tập đoàn", đại biểu Vũ Thị Lan Anh đề nghị.

Về chính sách ưu đãi trong hoạt động dầu khí tại Điều 42, đại biểu đồng tình với việc tiếp tục quy định cơ chế ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với các mỏ nhỏ, mỏ tận thu, mỏ có điều kiện địa lý phức tạp, chi phí cao, rủi ro lớn và các dự án tận thu nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, hạn chế lãng phí.

Tuy nhiên, đối với các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu dầu thô và các chính sách ưu đãi khác, đại biểu đề nghị rà soát để bảo đảm phù hợp với Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư, Luật Ngân sách nhà nước và các nghị quyết của Quốc hội về thuế... Đồng thời, cần đánh giá đầy đủ tác động của các chính sách ưu đãi đối với nguồn thu ngân sách nhà nước; quy định rõ nguyên tắc, phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng.

Góp ý tại Điều 60 về xử lý chi phí của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, đại biểu đề nghị quy định rõ hơn nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền phê duyệt, hạch toán, quyết toán và kiểm toán đối với các khoản chi phí của Tập đoàn được xử lý từ lợi nhuận sau thuế và nguồn thu từ bán phần sản phẩm dầu khí của Nhà nước.

Theo đại biểu, các quy định này phải bảo đảm phù hợp với pháp luật về ngân sách và thuế, đồng thời làm rõ cơ chế xử lý, bù trừ và quyết toán các khoản chi phí. Cụ thể, tại khoản 1 và khoản 2, cần phân biệt rõ chi phí do Tập đoàn tự thực hiện trong nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh với chi phí thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao.

Tại khoản 4, cần quy định rõ việc sử dụng tiền thu từ bán phần sản phẩm dầu khí của Nhà nước phải được thực hiện theo phương án bù trừ và quyết toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm không làm thất thu, không làm sai lệch nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.

Làm rõ trách nhiệm dài hạn và cơ chế tín chỉ carbon

Góp ý về các Điều 48, 49, 50 và 51, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) cho rằng: các quy định trong dự thảo đã bao quát tương đối đầy đủ nguyên tắc, việc triển khai dự án thu giữ và lưu trữ các-bon, thực hiện dự án trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí và cơ chế thu hồi chi phí. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 49 vẫn còn khoảng trống về thời hạn giám sát sau khi đóng cửa cơ sở lưu trữ và cơ chế chuyển giao trách nhiệm.

ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) phát biểu

Dự thảo quy định sau khi thu dọn công trình thu giữ và lưu trữ carbon, nhà thầu có trách nhiệm giám sát, quan trắc, bảo đảm an toàn cơ sở lưu trữ CO₂ và khắc phục sự cố rò rỉ hoặc ô nhiễm môi trường trong thời hạn quy định, trước khi bàn giao lại cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam quản lý.

Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ điều kiện bàn giao, thời điểm chuyển giao trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm trong trường hợp phát sinh rò rỉ CO₂ hoặc sự cố môi trường sau khi bàn giao.

Theo đại biểu, nghĩa vụ giám sát đối với hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon có thể kéo dài hàng chục đến hàng trăm năm. Vì vậy, cần bổ sung thời hạn giám sát không thấp hơn 20 năm kể từ ngày đóng cửa cơ sở lưu trữ, trừ trường hợp nhà thầu chứng minh được CO₂ đã ổn định vĩnh viễn theo tiêu chí do Chính phủ quy định.

Trước khi việc bàn giao có hiệu lực, nhà thầu cũng cần thiết lập cơ chế tài chính bảo đảm đủ nguồn lực để trang trải chi phí giám sát và khắc phục sự cố phát sinh sau khi bàn giao.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cũng đề nghị bổ sung cơ chế xử lý trường hợp nhà thầu hiện hữu và nhà thầu của các lô hợp đồng dầu khí có liên quan không đạt được sự thống nhất khi thành tạo địa chất phù hợp cho lưu trữ nằm trên ranh giới nhiều lô hợp đồng. Trong trường hợp này, Tập đoàn cần báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trên cơ sở đánh giá lợi ích tổng thể của việc triển khai dự án.

Liên quan đến Điều 51, đại biểu đề nghị làm rõ tín chỉ carbon từ dự án thu giữ và lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí sẽ được giao dịch trên thị trường carbon trong nước hay hướng tới được công nhận theo cơ chế thị trường carbon quốc tế; đồng thời bổ sung nguyên tắc xử lý trường hợp giá tín chỉ carbon biến động mạnh, ảnh hưởng đến tiến độ thu hồi chi phí và phần chia lợi nhuận của Nhà nước từ hợp đồng dầu khí.

Cũng góp ý về Điều 51, ĐBQH Phạm Phú Bình (Nghệ An) băn khoăn về quyền sở hữu và việc hạch toán doanh thu từ bán tín chỉ carbon.

ĐBQH Phạm Phú Bình (Nghệ An) phát biểu

Theo dự thảo, nhà thầu dầu khí triển khai dự án thu giữ và lưu trữ carbon được sở hữu tín chỉ carbon. Đại biểu cho rằng, hiện nay, đa số nhà thầu dầu khí là liên doanh hoặc nhà thầu nước ngoài. Khi được sở hữu tín chỉ carbon, nhà thầu có quyền nắm giữ, không nhất thiết phải bán ngay mà có thể lựa chọn thời điểm giao dịch tùy thuộc vào thị trường tín chỉ carbon.

Đại biểu dẫn Nghị định số 112 ngày 1/4/2026 của Chính phủ hướng dẫn việc trao đổi tín chỉ carbon và cho biết, đối với loại hình thu giữ và lưu trữ carbon, chủ sở hữu tín chỉ carbon được bán ra thị trường thế giới tối đa 90% số tín chỉ carbon.

Theo đại biểu, trường hợp một nhà thầu quốc tế triển khai dự án dầu khí kết hợp thực hiện dự án thu giữ và lưu trữ carbon thì toàn bộ chi phí thực hiện dự án này được hạch toán vào chi phí thực hiện hợp đồng khai thác dầu khí. Việc hạch toán làm giảm lợi nhuận tính thuế và tương ứng làm giảm số thuế phải nộp... Trong khi đó, tín chỉ carbon thuộc quyền sở hữu của nhà thầu. Nhà thầu có thể tiếp tục nắm giữ, không giao dịch ngay mà lựa chọn thời điểm có lợi để thực hiện giao dịch.

Về quy định tại khoản 3 Điều 51: “Doanh thu từ bán tín chỉ carbon được hạch toán giảm phần thu hồi chi phí trong kỳ”, đại biểu đề nghị làm rõ “trong kỳ” là kỳ thực hiện hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon hay kỳ bán tín chỉ carbon.

Theo đại biểu, thời điểm bán tín chỉ carbon có thể diễn ra sau khi dự án đã đóng cửa, nhà thầu đã hoàn thành hợp đồng, thậm chí không còn hoạt động tại Việt Nam. Vì vậy, cần xem xét quy định “trong kỳ” có phù hợp với những trường hợp này hay không.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị rà soát quy định về việc sử dụng toàn bộ doanh thu từ bán tín chỉ carbon để hạch toán giảm phần thu hồi chi phí.

Theo đại biểu, quá trình quản lý hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon và nắm giữ tín chỉ carbon có thể phát sinh các chi phí liên quan. Vì vậy, việc bán được bao nhiêu thì hạch toán toàn bộ doanh thu đó để giảm trừ chi phí cũng chưa hoàn toàn hợp lý... Từ những vấn đề trên, đại biểu đề nghị Chính phủ cân nhắc, rà soát lại quy định tại Điều 51 để bảo đảm phù hợp với thực tế.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ