🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Sửa đổi Luật Dầu khí: Thoát tư duy quản lý bằng thủ tục, chuyển sang quản trị theo hiệu quả

1 giờ trước
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) cho rằng, khi các mỏ hiện hữu suy giảm sản lượng, nguồn tài nguyên mới ngày càng tập trung ở các mỏ nhỏ, cận biên, nước sâu, xa bờ và có điều kiện khai thác phức tạp, Luật Dầu khí cần chuyển mạnh từ quản lý bằng trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả, rủi ro và trách nhiệm. Đây là yêu cầu quan trọng để đưa nguồn tài nguyên còn lại vào khai thác, tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng và bảo đảm an ninh năng lượng.

Tránh để thủ tục làm mất cơ hội khai thác mỏ tận thu

Chiều 8/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, góp ý về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn cơ bản đồng tình với sự cần thiết sửa đổi toàn diện luật theo đề xuất của Chính phủ và các nội dung được cơ quan thẩm tra nêu trong báo cáo. Đại biểu đồng thời đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp của các đại biểu sau phiên thảo luận tại tổ.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) phát biểu thảo luận về Luật Dầu khí (sửa đổi).

Theo ông Nguyễn Ngọc Sơn, thực tế hoạt động dầu khí đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng chính sách. Sản lượng tại nhiều mỏ hiện hữu đang có xu hướng giảm, trong khi các phát hiện mới phần lớn là mỏ nhỏ, mỏ cận biên. Phần tiềm năng còn lại ngày càng tập trung ở khu vực nước sâu, xa bờ với điều kiện địa chất phức tạp.

Trong bối cảnh đó, nếu tiếp tục quản lý chủ yếu bằng các quy trình, thủ tục cứng nhắc, Việt Nam có thể đứng trước nghịch lý có tài nguyên nhưng không thể đưa tài nguyên vào khai thác thương mại. “Điều đó đòi hỏi pháp luật phải chuyển mạnh từ quản lý nặng về trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả và rủi ro”, đại biểu nhấn mạnh.

Một trong những nội dung được đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn lưu ý là cơ chế đối với các mỏ khai thác tận thu. Theo đại biểu, quy trình lựa chọn nhà đầu tư như quy định tại Điều 30 có thể khiến quá trình chuẩn bị khai thác bị kéo dài, trong khi mục tiêu của cơ chế này là tận dụng phần tài nguyên còn lại trước khi mỏ phải dừng khai thác.

Đại biểu đề nghị sửa Điều 30 theo hướng đặt nguyên tắc bảo đảm tính liên tục của hoạt động khai thác lên hàng đầu. Cùng với đó, cần cho phép chuẩn bị phương án tiếp quản song song ngay từ khi quyết định phương án khai thác được đưa ra, thay vì phải chờ đến mốc 3 tháng mới bắt đầu. Thời điểm khởi động quá trình chuẩn bị cũng cần được xác định rõ và không nên phụ thuộc vào việc nhà thầu hiện hữu có trình đề xuất hay không.

Đại biểu cũng cho rằng, cơ chế dành cho các dự án khai thác tận thu tại khoản 5 Điều 30 cần được ban hành đồng thời với thời điểm Luật có hiệu lực. Việc này nhằm tránh khoảng trống pháp lý, khiến những mỏ có khả năng khai thác tiếp tục phải chờ đợi cơ chế hướng dẫn.

Đối với cơ chế quyết định đầu tư và chấp nhận rủi ro, liên quan đến các Điều 35, 36 và 37 về kế hoạch đại cương phát triển mỏ (ODP), kế hoạch phát triển mỏ (FDP) và trách nhiệm của người ra quyết định, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng dự thảo vẫn thiên về cách tiếp cận liệt kê các hạng mục công trình và đặt ra ngưỡng tăng tổng mức đầu tư để xác định trường hợp phải điều chỉnh.

Đại biểu đề nghị chuyển sang cách tiếp cận dựa trên mức độ trọng yếu của thay đổi. Theo đó, chỉ yêu cầu trình điều chỉnh khi những thay đổi có tác động đáng kể đến mục tiêu phát triển mỏ, trữ lượng có thể thu hồi, hệ số thu hồi, an toàn, môi trường hoặc hiệu quả kinh tế.

Ngược lại, đối với những điều chỉnh kỹ thuật nằm trong phạm vi kế hoạch đã được phê duyệt, cần trao quyền chủ động cho Tập đoàn và nhà thầu quyết định, đồng thời gắn quyền quyết định với trách nhiệm của người thực hiện.

Theo đại biểu, cách tiếp cận này sẽ giúp giảm các thủ tục không cần thiết, đồng thời tạo dư địa để doanh nghiệp phản ứng nhanh hơn trước những thay đổi thực tế trong quá trình triển khai dự án.

Phát triển CCS phải đi cùng trách nhiệm tài chính

Một nội dung mới được đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn quan tâm là hoạt động thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCS).

Theo ông, CCS mở ra cơ hội hình thành một lĩnh vực công nghiệp mới, đồng thời cho phép tận dụng các mỏ dầu khí đã cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu. Tuy nhiên, hoạt động này cũng kéo theo nghĩa vụ giám sát, quản lý và bảo đảm an toàn trong thời gian rất dài, thậm chí kéo dài hàng chục năm sau khi hợp đồng dầu khí đã kết thúc.

Vì vậy, đại biểu đề nghị dự thảo Luật cần đặt ra nguyên tắc bắt buộc về ký quỹ, bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm tại Điều 49; còn mức cụ thể có thể giao Chính phủ quy định.

CCS mở ra cơ hội hình thành một lĩnh vực công nghiệp mới, đồng thời cho phép tận dụng các mỏ dầu khí đã cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu. (Ảnh minh họa)

Theo đại biểu, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là một nghĩa vụ tài sản. Nếu luật không xác lập nguyên tắc ngay từ đầu, có nguy cơ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong dài hạn cuối cùng sẽ chuyển sang Nhà nước.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung vào Điều 51 nguyên tắc khi chuyển giao tín chỉ carbon ra nước ngoài phải bảo đảm không tính trùng và không ảnh hưởng đến Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

Bên cạnh đó, ông đề nghị tiếp tục rà soát kỹ thuật lập pháp, đặc biệt về cấu trúc các khoản và nội dung dẫn chiếu tại các Điều 14, 15, 23, 34, 46, 51 và 59. Đồng thời, cần bổ sung tại Điều 53 quy định giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết nhằm bảo đảm đủ cơ sở pháp lý cho quá trình triển khai.

Từ các vấn đề trên, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, điểm cốt lõi của lần sửa đổi Luật Dầu khí này không chỉ là bổ sung hay điều chỉnh từng quy định cụ thể, mà phải tạo ra một thay đổi thực chất trong phương thức quản trị ngành.

Theo đại biểu, phân cấp phải đi cùng quyền quyết định; chấp nhận rủi ro phải đi cùng cơ chế kiểm soát; tạo thuận lợi cho đầu tư phải đồng thời bảo vệ tài nguyên và lợi ích quốc gia. Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh những mỏ có điều kiện thuận lợi ngày càng giảm, còn phần tài nguyên tiềm năng nằm ở những khu vực có chi phí đầu tư cao và rủi ro lớn hơn.

Đại biểu nhấn mạnh, nếu thiết kế được một cơ chế pháp lý cho phép doanh nghiệp chủ động hơn trong phạm vi được giao, đồng thời xác lập rõ trách nhiệm và công cụ kiểm soát, Luật Dầu khí sẽ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở quá trình đưa tài nguyên vào khai thác.

Qua đó, nguồn tài nguyên dưới lòng đất có thể được chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng và đóng góp cho ngân sách Nhà nước.

Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, dự thảo Luật Dầu khí lần này vì vậy không chỉ dừng ở việc sửa đổi các quy định về hoạt động dầu khí, mà còn từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý phù hợp cho ngành dầu khí trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng và hội nhập quốc tế.

Huy Tùng

TIN LIÊN QUAN








































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ