🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Hòa giải ở cơ sở phải có công cụ nhận diện và 'điểm dừng pháp lý' rõ ràng

1 giờ trước
Thảo luận về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), nhiều ĐBQH cho rằng, cần làm rõ phạm vi hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời thiết lập “điểm dừng pháp lý” trong quá trình hòa giải, bảo đảm hòa giải viên có công cụ nhận diện phù hợp, người dân không bị kéo dài thời gian bảo vệ quyền lợi và không rơi vào khoảng trống pháp lý khi hòa giải không thành.

Phải có công cụ nhận diện tốt để nghĩa vụ không thành gánh nặng cho hòa giải viên

Để hòa giải ở cơ sở làm tốt vai trò đi trước một bước trong giữ gìn đoàn kết, tạo đồng thuận xã hội, các ĐBQH quan tâm cho ý kiến hoàn thiện các quy định về phạm vi hòa giải ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải, thời điểm kết thúc hòa giải...

ĐBQH Lê Hoàng Anh (Gia Lai) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

Về phạm vi hòa giải ở cơ sở, ĐBQH Lê Hoàng Anh (Gia Lai) nhận thấy, điểm c khoản 1 Điều 3 của dự thảo Luật đã loại trừ vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý hành chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, là một quy định mở, dẫn chiếu qua nhiều đạo luật. Đồng thời, theo quy định tại Điều 12 của dự thảo Luật thì hòa giải viên không phải tự xác định một hành vi là vi phạm hành chính hay hình sự mà chỉ có nghĩa vụ phát hiện thông tin theo quy định.

Đại biểu cho rằng, đây là hướng đi đúng, giảm gánh nặng pháp lý không phù hợp với hòa giải viên vốn là người dân, chỉ được yêu cầu hiểu biết pháp luật chứ không được đào tạo chuyên môn.

Để hướng đi này thực sự đi vào cuộc sống, đại biểu đề nghị, nghị định quy định danh mục các tranh chấp, mâu thuẫn thuộc phạm vi giải quyết của hòa giải ở cơ sở cần ban hành trước hoặc cùng thời điểm luật có hiệu lực, tránh khoảng trống khiến hòa giải viên thực hiện nghĩa vụ phát hiện thông tin mà chưa có tiêu chí đối chiếu.

Đồng thời, theo đại biểu, Bộ Tư pháp trong trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ cho công tác hòa giải ở cơ sở cần thiết kế công cụ nhận diện thực tế, dễ áp dụng, gắn với các nhóm việc phổ biến ở cơ sở để phát hiện, để nghĩa vụ phát hiện không trở thành gánh nặng cho hòa giải viên.

ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hoá) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Bên cạnh xác định phạm vi thực hiện hòa giải ở cơ sở, ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) nhận thấy, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định tại Điều 21 về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải, và Điều 27 về kết thúc hòa giải.

Theo đại biểu, đây là hai điều luật trực tiếp xác lập quyền của người dân cũng như “điểm dừng” của quá trình hòa giải, qua đó xác định ranh giới giữa vận động, thuyết phục trong cộng đồng với việc bảo vệ quyền bằng pháp luật. Nếu quy định không đủ rõ ràng, một cơ chế mềm dẻo và giàu tính cộng đồng như hòa giải ở cơ sở có thể vô tình làm chậm quyền tiếp cận công lý của người dân.

Trong đó, về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải, đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, quy định tại điểm c, khoản 1 của Điều 21 chưa xử lý được tình huống các bên có quan điểm khác nhau trong việc công khai hoặc không công khai quá trình hòa giải. Do đó, trong trường hợp một bên muốn công khai nhưng bên còn lại không đồng ý, hòa giải viên sẽ không có căn cứ để quyết định.

Trong khi đó, những thông tin liên quan đến gia đình, đời tư hoặc bí mật kinh doanh, một khi đã bị công khai thì hậu quả rất khó khắc phục. Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉ công khai khi tất cả các bên cùng đồng ý; nếu không đạt được sự đồng thuận thì mặc nhiên không công khai. “Công khai là lựa chọn chung, bảo mật là trạng thái mặc định”, đại biểu nhấn mạnh.

Cùng với đó, đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, tại điểm c, khoản 1, Điều 21 đã mở quyền được phiên dịch nhưng chưa rõ ai lựa chọn, ai trả chi phí và trách nhiệm bảo mật. Nếu người yếu thế phải tự tìm, tự trả chi phí thì bình đẳng mới chỉ là hình thức. Do vậy, đại biểu đề nghị ngân sách bảo đảm chi phí cần thiết, người phiên dịch phải được các bên chấp thuận, không có lợi ích liên quan và chịu nghĩa vụ bảo mật hoặc hòa giải chỉ tự nguyện khi mỗi bên hiểu đúng, diễn đạt đúng và nhận thức đầy đủ hệ quả thỏa thuận.

Thiết lập “điểm dừng pháp lý” cho hòa giải ở cơ sở

Về kết thúc hòa giải (Điều 27), đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, phải thiết kế một điểm dừng pháp lý gồm 3 lớp, nhằm bảo đảm quá trình hòa giải không kéo dài bất định, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân khi vụ việc không còn phù hợp để tiếp tục hòa giải.

Ở lớp thứ nhất, đại biểu cho rằng, cần thiết kế điểm dừng về thời gian. Bởi, hiện tiêu chí “tiếp tục hòa giải không có kết quả” quy định tại Điều 27 mang tính định tính, khiến vụ việc có thể kéo dài trong khi thời hiệu khởi kiện vẫn trôi qua. Do đó, nên quy định theo hướng: thời hạn hòa giải do các bên thống nhất; khi hết thời hạn mà các bên không gia hạn thì quá trình hòa giải phải kết thúc.

Đồng thời, luật cũng cần khẳng định việc hòa giải không làm gián đoạn, tạm dừng thời hiệu, trừ trường hợp luật khác có quy định. “Thiện chí không thể trở thành khoảng chờ pháp lý bất định”, đại biểu nhấn mạnh.

Ở lớp thứ hai, đại biểu đề nghị quy định rõ điểm dừng vì lý do an toàn và tính hợp pháp. Theo đó, khi xuất hiện dấu hiệu bạo lực, xâm hại trẻ em, nguy cơ đối với tính mạng, sức khỏe hoặc khi vụ việc không còn thuộc phạm vi hòa giải theo Điều 3, hòa giải viên phải kết thúc ngay việc hòa giải, thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết và chuyển thông tin tới cơ quan có thẩm quyền.

"Đây phải là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Khi có nguy cơ gây hại, thước đo không phải là tỷ lệ hòa giải thành mà là khả năng ngăn chặn hậu quả", đại biểu Bùi Văn Dũng nhấn mạnh.

Ở lớp thứ ba, đại biểu cho rằng, cần tạo “điểm nối” sau khi hòa giải kết thúc. Thực tế, người dân có thể không biết sau hòa giải phải tìm đến cơ quan nào, bằng phương thức nào hoặc trong thời hạn bao lâu để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình.

Vì vậy, đại biểu đề nghị hòa giải viên có trách nhiệm thông tin cho các bên về cơ quan tiếp nhận, phương thức bảo vệ quyền; đồng thời xác nhận thời điểm và lý do kết thúc hòa giải khi có yêu cầu. Đây không phải là việc hòa giải viên thực hiện tư vấn thay luật sư, mà nhằm bảo đảm người dân không rơi vào khoảng trống giữa cơ chế hòa giải cộng đồng và cơ chế pháp lý chính thức.

ĐBQH Võ Ngọc Thanh Trúc (TP. Hồ Chí Minh) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Cùng đề nghị phải xác định rõ thời hạn kết thúc hòa giải, ĐBQH Võ Ngọc Thanh Trúc (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị bổ sung tại Điều 24 quy định thời hạn kết thúc hòa giải là 15 ngày kể từ khi bắt đầu; đối với vụ việc phức tạp thì được gia hạn thêm 15 ngày. Đồng thời, trong quá trình hòa giải, nếu phát hiện vụ việc có nguy cơ mất an toàn thì phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền, không chờ đến khi hết thời hạn.

Theo đại biểu Bùi Văn Dũng, hòa giải phải bắt đầu bằng sự tự nguyện, vận hành bằng niềm tin và kết thúc bằng một lối ra pháp lý rõ ràng. Quyền của người dân phải được bảo vệ trong toàn bộ quá trình cả khi hòa giải không thành. “Hòa giải tốt không phải là giữ mọi tranh chấp ở lại cộng đồng bằng mọi giá. Hòa giải tốt là bảo vệ đúng quyền, dừng đúng lúc, chuyển đúng nơi để sự mềm dẻo của cộng đồng không làm suy giảm sự nghiêm minh của pháp luật”, đại biểu nhấn mạnh.

Thanh Hải

TIN LIÊN QUAN














































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ