Bảo đảm nguồn lực để công tác hòa giải đạt hiệu quả thực chất
Nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ngay từ cơ sở
Tham gia góp ý dự thảo luật, đại biểu (ĐB) Siu Hương - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai bày tỏ thống nhất cao với nhiều nội dung của dự thảo, đồng thời nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở lần này cần hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ngay từ cơ sở, góp phần giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư, hạn chế phát sinh khiếu kiện và giảm tải cho các cơ quan tư pháp.
Một trong những nội dung được đại biểu đặc biệt quan tâm là quy định tại khoản 1 Điều 6 về bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Theo dự thảo, quy định hiện hành “Nhà nước hỗ trợ kinh phí” được sửa đổi thành “Nhà nước bảo đảm kinh phí” từ nguồn ngân sách nhà nước. ĐB Siu Hương cho rằng đây là điểm sửa đổi rất cần thiết và phù hợp với thực tiễn.

ĐB Siu Hương đồng tình cao với việc quy định hiện hành “Nhà nước hỗ trợ kinh phí” được sửa đổi thành “Nhà nước bảo đảm kinh phí” từ nguồn ngân sách nhà nước. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Theo ĐB Hương, nhiều địa phương trong thời gian qua vẫn chưa bố trí hoặc bố trí chưa đầy đủ kinh phí cho hoạt động hòa giải, khiến các tổ hòa giải gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Khi chuyển sang cơ chế Nhà nước bảo đảm kinh phí sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn, giúp các địa phương chủ động bố trí nguồn lực, đồng thời tạo điều kiện để các tổ hòa giải và hòa giải viên hoạt động hiệu quả hơn.
Để quy định này thực sự đi vào cuộc sống, ĐB Hương đề nghị bổ sung trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc cân đối, hỗ trợ kinh phí cho cấp xã đối với những địa phương chưa bảo đảm được nguồn lực theo quy định.
Theo đại biểu, đây là giải pháp cần thiết nhằm bảo đảm công tác hòa giải được triển khai thống nhất, liên tục và hiệu quả, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn.
Cùng quan điểm, ĐB Trường Trung Tuyến cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm bảo đảm kinh phí giữa cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời quy định cụ thể các khoản chi tối thiểu như thù lao hòa giải viên, chi phí đi lại, phiên dịch tiếng dân tộc, tập huấn nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin.
Theo đại biểu, việc quy định rõ các khoản chi sẽ giúp địa phương có căn cứ lập dự toán ngân sách, tránh tình trạng mỗi nơi thực hiện một cách khác nhau.
Nâng cao tiêu chuẩn hòa giải viên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Bên cạnh nguồn lực, chất lượng đội ngũ hòa giải viên cũng là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm. Góp ý vào Điều 7 của dự thảo luật, ĐB Siu Hương đề nghị điều chỉnh lại thứ tự các tiêu chí đối với hòa giải viên theo hướng đặt yêu cầu “hiểu biết pháp luật” lên trước tiêu chí “có khả năng thuyết phục”.

Quang cảnh buổi thảo luận ở tổ sáng 5-8. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Theo đại biểu, hiểu biết pháp luật là nền tảng quan trọng nhất để hòa giải viên có thể phân tích đúng bản chất vụ việc, giải thích quy định pháp luật và định hướng các bên đi đến thỏa thuận phù hợp.
Đồng thời, ĐB Hương đề nghị bổ sung tiêu chí “có kiến thức xã hội”, bởi hòa giải viên không chỉ cần nắm chắc quy định pháp luật mà còn phải am hiểu phong tục, tập quán, đời sống và điều kiện thực tế của địa phương để có phương pháp vận động phù hợp.
Theo đại biểu, nhiều vụ việc phát sinh trong cộng đồng không chỉ chịu tác động của quy định pháp luật mà còn gắn với yếu tố văn hóa, truyền thống và quan hệ dòng họ. Vì vậy, kiến thức xã hội sẽ giúp hòa giải viên có cái nhìn toàn diện hơn khi xử lý vụ việc.
ĐB Siu Hương cũng kiến nghị sửa đổi quy định về phẩm chất của hòa giải viên theo hướng yêu cầu người được lựa chọn phải gương mẫu chấp hành pháp luật; không trong thời gian bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; không có án tích hoặc đã được xóa án tích theo quy định. Ngoài ra, cần bổ sung tiêu chí tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ nhằm bảo đảm tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó lâu dài.
Cùng với đó, đại biểu còn đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về việc gia đình và người thân của hòa giải viên không vi phạm pháp luật nhằm góp phần nâng cao uy tín, tính gương mẫu và sức thuyết phục của hòa giải viên trong cộng đồng.

ĐB Trường Trung Tuyến cho rằng nên ưu tiên lựa chọn những hòa giải viên biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán của cộng đồng thay vì chỉ quy định chung là người dân tộc thiểu số. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Trong khi đó, ĐB Trường Trung Tuyến cho rằng nên ưu tiên lựa chọn những hòa giải viên biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán của cộng đồng thay vì chỉ quy định chung là người dân tộc thiểu số.
Theo đại biểu, trên thực tế nhiều cán bộ, công chức người Kinh công tác lâu năm tại địa phương sử dụng thành thạo tiếng dân tộc, hiểu sâu đời sống và phong tục của người dân nên hoàn toàn có thể phát huy hiệu quả trong công tác hòa giải.
Hoàn thiện quy định để tăng tính thống nhất và khả thi
Nhiều ý kiến của các đại biểu cũng tập trung góp ý vào các quy định về trình tự, thủ tục hòa giải nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.
ĐB Siu Hương cho rằng quy định thời hạn 2 ngày để phân công hòa giải viên và 3 ngày để hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải là cần thiết nhằm bảo đảm vụ việc được giải quyết kịp thời. Tuy nhiên, dự thảo chưa xác định rõ đây là “ngày” hay “ngày làm việc”, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định rõ là “ngày làm việc”, đồng thời bổ sung cơ chế gia hạn trong các trường hợp vụ việc phức tạp, cần xác minh, thu thập tài liệu hoặc xảy ra sự kiện bất khả kháng.
Đối với Điều 29, ĐB Hương đề nghị bổ sung quy định xử lý trường hợp các bên đã hòa giải thành nhưng không thực hiện hoặc chỉ thực hiện một phần nội dung đã cam kết. Theo đại biểu, thực tiễn vẫn còn nhiều trường hợp sau khi hòa giải thành, các bên không tự nguyện thực hiện thỏa thuận, khiến mâu thuẫn tiếp tục phát sinh và làm giảm hiệu quả của công tác hòa giải.

ĐB Trần Minh Trọng cho rằng việc coi ký tên là nghĩa vụ bắt buộc chưa thật sự phù hợp. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Góp ý tại điểm đ khoản 2 Điều 21 liên quan đến nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, ĐB Trần Minh Trọng cho rằng, dự thảo quy định các bên có nghĩa vụ “ký tên hoặc điểm chỉ hoặc xác nhận trong văn bản về kết quả hòa giải”. Tuy nhiên, quy định này chưa thống nhất với nguyên tắc tự nguyện của hoạt động hòa giải được quy định tại Điều 4 cũng như quyền đồng ý, từ chối, tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải của các bên.
Đại biểu phân tích, khoản 2 Điều 28 của dự thảo đã dự liệu trường hợp người tham gia không ký, điểm chỉ hoặc xác nhận thì hòa giải viên ghi rõ lý do trong văn bản. Như vậy, việc coi ký tên là nghĩa vụ bắt buộc chưa thật sự phù hợp.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng các bên chỉ ký tên, điểm chỉ hoặc xác nhận khi đồng ý với nội dung được ghi trong văn bản về kết quả hòa giải, qua đó bảo đảm nguyên tắc tự nguyện và tăng tính chặt chẽ trong quá trình thực hiện.
Phát huy vai trò của MTTQ, nâng cao hiệu quả tổ chức hòa giải
Để nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ hòa giải, ĐB Siu Hương cũng đề nghị sửa đổi Điều 33 theo hướng quy định rõ hơn vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam.
Theo đó, MTTQ cần phối hợp với UBND cùng cấp trong quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; củng cố, kiện toàn tổ hòa giải; vận động người dân chấp hành pháp luật; giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải; phối hợp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng và nhân rộng các mô hình hòa giải hiệu quả.
Đồng thời nhất trí với quan điểm của cơ quan thẩm tra về việc cần quy định chính sách thù lao tương xứng cho những người được mời tham gia tư vấn, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia hòa giải. Theo đại biểu, chính sách phù hợp sẽ góp phần động viên, khuyến khích đội ngũ hòa giải viên tích cực, trách nhiệm hơn trong thực hiện nhiệm vụ.
Trong khi đó, ĐB Trường Trung Tuyến góp ý bổ sung các tiêu chí cụ thể để xác định số lượng tổ hòa giải như quy mô dân số, số hộ gia đình, diện tích địa bàn, khoảng cách giữa các khu dân cư, đặc điểm dân tộc, tôn giáo, số lượng vụ việc phát sinh và điều kiện kinh tế - xã hội.
Đại biểu cho biết, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều thôn, làng ở Gia Lai được sáp nhập từ 3 - 5 thôn, địa bàn rộng, dân cư phân tán. Nếu chỉ bố trí một tổ hòa giải với ba hòa giải viên sẽ rất khó đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Vì vậy, ĐB Tuyến đề nghị giao Chính phủ quy định khung tiêu chí thành lập tổ hòa giải và cho phép một thôn, làng hoặc tổ dân phố được thành lập từ hai tổ hòa giải trở lên đối với địa bàn rộng hoặc có nhiều vụ việc phát sinh.
Đối với việc công nhận hòa giải viên và Tổ trưởng Tổ hòa giải, ĐB Tuyến đề nghị bổ sung quy định Chủ tịch UBND cấp xã phải ban hành quyết định công nhận trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ để tránh kéo dài thời gian xử lý.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ trưởng Tổ hòa giải như tiếp nhận, phân loại vụ việc; phân công hòa giải viên; đề nghị UBND cấp xã hỗ trợ chuyên môn; tổ chức sinh hoạt nghiệp vụ và quản lý hồ sơ hòa giải.
ĐB Tuyến cũng kiến nghị bổ sung quy định UBND cấp xã phân công cơ quan hoặc công chức chuyên môn làm đầu mối tham mưu quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở nhằm bảo đảm thống nhất trong hướng dẫn, theo dõi và hỗ trợ hoạt động của các tổ hòa giải.
MAI LÂM
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
31 phút trước
49 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước