🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Phân quyền thực chất để đô thị chủ động phát triển

4 giờ trước
Góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị, các đại biểu đề nghị đẩy mạnh phân quyền, trao thêm không gian chủ động cho chính quyền đô thị, song song với thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực.

Dự thảo Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng không chỉ tạo thêm cơ chế đặc thù cho một số đô thị mà còn hình thành khung thể chế mới cho quản trị và phát triển đô thị. Góp ý dự luật này, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 11/8, nhiều các đại biểu đề nghị đẩy mạnh phân quyền, trao thêm không gian chủ động cho chính quyền đô thị, song song với thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và liên kết vùng. Cùng đó là hoàn thiện cơ chế thí điểm chính sách mới, tăng khả năng huy động nguồn lực quốc tế và bảo đảm các đô thị phát triển trong một không gian quy hoạch thống nhất.

Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai). Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

* Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai): Phân quyền cho đô thị phải đi cùng kiểm soát quyền lực

Ý nghĩa của dự án Luật Phát triển đô thị không chỉ nằm ở việc luật hóa một số cơ chế, chính sách đặc thù đã được thực tiễn kiểm nghiệm, mà quan trọng hơn là hình thành một khung thể chế mới cho quản trị và phát triển đô thị. Cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, từ tình trạng địa phương phải đi xin cơ chế đặc thù sang phân quyền mạnh, ổn định, minh bạch và có trách nhiệm.

Tuy nhiên, cần làm rõ hơn triết lý của đạo luật. Nếu đã là luật về phát triển đô thị thì không nên chỉ dừng ở việc luật hóa cơ chế đặc thù cho TP. Hồ Chí Minh rồi cho các địa phương khác áp dụng từng phần. Thay vào đó, luật cần hướng tới một khung thể chế chung về phát triển và quản trị đô thị, được phân tầng phù hợp với quy mô, vị trí, vai trò và năng lực quản trị của từng đô thị.

Những cơ chế đã được kiểm nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và có tính phổ quát nên từng bước trở thành chính sách chung cho các đô thị đủ điều kiện, thay vì mỗi địa phương tiếp tục phải xin một nghị quyết hoặc cơ chế riêng.

Ngoài ra, tôi đề nghị nghiên cứu quy định trực tiếp trong luật cơ chế áp dụng đối với tỉnh Đồng Nai, thay vì hoàn toàn đặt địa phương này trong nhóm các tỉnh, thành được Chính phủ quy định sau. Bởi Nghị quyết số 16 của Bộ Chính trị đã xác định Đồng Nai được áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù tương đồng với TP. Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực, do đó cần được cụ thể hóa ngay trong luật.

Việc phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực. Trao quyền cho địa phương không nên chỉ được hiểu là chuyển quyền từ Trung ương xuống địa phương mà Chủ tịch UBND - HĐND tỉnh – thành phố phải thực sự phát huy vai trò của cơ quan dân cử trong quyết định chính sách và giám sát hoạt động của chính quyền.

Do đó, nên thiết kế ba tầng kiểm soát gồm trước khi quyết định, trong quá trình thực hiện và hậu kiểm, đánh giá, xử lý trách nhiệm sau thực hiện. Đồng thời, cần nâng cao năng lực của các bộ phận thuộc HĐND và đại biểu chuyên trách để tương xứng với quyền lực được trao.

Trước “phân mảnh” pháp luật khi nhiều địa phương được quyền ban hành các chính sách khác nhau, luật cần xác định rõ ranh giới giữa quyền quyết định của địa phương với pháp luật chung, cũng như cơ chế kiểm tra, giám sát tương ứng. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm khả năng phòng thủ, chống chịu và duy trì hoạt động thiết yếu của các đô thị đặc biệt trong tình huống quốc phòng, an ninh hoặc khẩn cấp, gắn phát triển đô thị với khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự và hạ tầng lưỡng dụng.

Đại biểu Lê Thị Song An (Đoàn Tây Ninh): Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

* Đại biểu Lê Thị Song An (Tây Ninh): Đừng để cơ chế thí điểm quay lại “xin - cho”

Quy định cho phép thành phố quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định là một trong những điểm mở quan trọng của dự thảo, bởi thực tiễn phát triển đô thị luôn xuất hiện những vấn đề mới trong khi pháp luật chưa thể dự báo đầy đủ.

Tuy nhiên, việc dự thảo liệt kê cụ thể các lĩnh vực được phép thí điểm có thể vô tình trở thành giới hạn đối với sự chủ động của thành phố trong tương lai. Những vấn đề mới phát sinh nhưng chưa nằm trong danh mục sẽ tiếp tục phải chờ sửa luật hoặc xin một cơ chế riêng.

Do đó, nên thay đổi cách tiếp cận theo hướng không cố gắng liệt kê các lĩnh vực được thí điểm, mà xác định rõ những lĩnh vực không được phép thí điểm. Những vấn đề còn lại có thể cho phép thành phố chủ động đề xuất và quyết định theo các điều kiện, quy trình và cơ chế kiểm soát do luật quy định.

Hiện thẩm quyền quyết định và xử lý kết quả sau thí điểm hiện vẫn chưa thực sự trao quyền đầy đủ cho thành phố. Theo dự thảo, để bắt đầu thí điểm cần có sự chấp thuận của các cấp có thẩm quyền; sau khi thí điểm thành công, thành phố vẫn phải kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc ban hành quy định mới để được áp dụng chính thức.

Thiết kế như vậy có nguy cơ khiến cơ chế thí điểm quay trở lại mô hình xin - cho chính sách đặc thù, trong khi mục tiêu của dự luật là khắc phục tình trạng này. Do đó, với những vấn đề pháp luật chưa quy định, cần mạnh dạn phân quyền cho thành phố. Sau khi thí điểm thành công, đáp ứng các tiêu chí do luật quy định và nằm trong phạm vi Quốc hội giao quyền, HĐND thành phố nên được quyết định chuyển sang áp dụng chính thức trên địa bàn.

Đây mới thực sự là cách biến cơ chế thí điểm thành công cụ để đô thị tự phát hiện vấn đề, thử nghiệm chính sách và giải quyết những yêu cầu mới từ thực tiễn.

Trong phân quyền, đề nghị tiếp tục phân định rõ thẩm quyền giữa HĐND, UBND và Chủ tịch UBND thành phố. Vấn đề lớn, có tính chiến lược và ảnh hưởng rộng đến người dân thuộc HĐND; vấn đề tổ chức thực hiện giao cho UBND; còn các quyết định điều hành thường xuyên, cần xử lý nhanh và gắn với trách nhiệm cá nhân có thể giao trực tiếp cho người đứng đầu.

Quyền được trao càng lớn thì cơ chế giám sát càng phải rõ, với các công cụ như giải trình, chất vấn, giám sát chuyên đề, công khai quyết định và trách nhiệm của người đứng đầu.

Đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn Cần Thơ). Ảnh: Thu Hằng/Bnews.vnanet.vn

* Đại biểu Tô Ái Vang (Cần Thơ): Lấp khoảng trống quy hoạch, tăng liên kết đô thị ven biển

Đề nghị dự thảo Luật Phát triển đô thị tiếp tục hoàn thiện các quy định về liên kết vùng, đặc biệt trong quy hoạch không gian phát triển và liên kết các đô thị ven biển.

Tại điểm c khoản 2 Điều 38, dự thảo quy định về thống nhất tổ chức không gian phát triển, đầu tư hạ tầng kỹ thuật chung và liên kết giữa thành phố với các địa phương trong vùng đô thị đặc biệt. Tuy nhiên, quy định này chưa đề cập đến quy hoạch vùng Đông Nam Bộ theo Luật Quy hoạch, từ đó có thể tạo ra khoảng trống pháp lý.

Do đó, dự thảo cần làm rõ mối quan hệ và thứ bậc giữa các quy hoạch, đồng thời bổ sung quy định về quy hoạch phát triển đô thị vùng, vùng đô thị đặc biệt, trong đó xác định rõ tiêu chí và ranh giới.

Cùng đó, bổ sung chính sách phát triển kinh tế biển và quản lý không gian đô thị đặc thù; đồng thời quy định rõ hơn về liên kết đô thị ven biển gắn với phát triển kinh tế biển lưỡng dụng và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Việc bổ sung các quy định này nhằm thể chế hóa các chủ trương về phát triển không gian và kinh tế biển, đồng thời phù hợp với đặc điểm địa chính trị, địa kinh tế của Việt Nam. Với hơn 3.260 km bờ biển và hơn 4.000 đảo, không gian biển vừa mở ra cơ hội giao thương quốc tế, vừa có ý nghĩa quan trọng đối với bảo đảm an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Bên cạnh đó, nếu TP. Hồ Chí Minh được xác định là đô thị hạt nhân, đóng vai trò điều phối chuỗi cung ứng, kết nối với các tỉnh, thành phố trong dải đô thị ven biển, cùng với đầu tư vào giao thông ven biển và hạ tầng số liên vùng, có thể hình thành chuỗi giá trị kinh tế biển liên hoàn từ Bắc vào Nam.

Cách tiếp cận này không chỉ mở rộng không gian phát triển cho các đô thị mà còn góp phần giảm áp lực về dân số, hạ tầng và môi trường đối với đô thị hạt nhân, đồng thời gắn phát triển kinh tế biển với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đại biểu Lã Thanh Tân (Đoàn Hải Phòng). Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

* Đại biểu Lã Thanh Tân (Hải Phòng): Trung tâm tài chính phải trở thành “bản lề” dẫn vốn quốc tế

Trung tâm tài chính quốc tế không phải một nội dung đứng độc lập mà là bộ phận cốt lõi tạo nên năng lực của một đô thị đặc biệt như TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh các cơ chế về tổ chức bộ máy, ngân sách, khoa học công nghệ và liên kết vùng, khả năng huy động và dẫn vốn quốc tế là động lực quan trọng bảo đảm cho bộ máy đô thị vận hành và phát triển.

Vì vậy, việc đưa Trung tâm tài chính quốc tế vào Luật Phát triển đô thị có ý nghĩa khẳng định cam kết dài hạn và ổn định của Nhà nước đối với mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính tầm khu vực. Bản chất của Trung tâm tài chính quốc tế phải là đầu mối dẫn vốn, tức thu hút và luân chuyển dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế trong nước, chứ không chỉ là nơi đặt trụ sở của các định chế tài chính nước ngoài.

Từ đó, cần tháo gỡ quy định đang hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ của Trung tâm đối với các tổ chức, doanh nghiệp trong nước. Chính quyền thành phố và doanh nghiệp Việt Nam nếu đủ điều kiện phát hành cần có thể sử dụng dịch vụ tài chính, dịch vụ hỗ trợ của thành viên Trung tâm trong hoạt động phát hành, niêm yết và giao dịch chứng khoán nhằm thu hút vốn quốc tế. Đây là “cầu nối” cần thiết để Trung tâm tài chính thực sự trở thành bản lề giữa nguồn lực trong nước với thị trường vốn toàn cầu.

Bởi Trung tâm không chỉ thu hút vốn từ bên ngoài mà còn có thể kết nối dòng vốn quốc tế với nhu cầu phát triển hạ tầng, công nghệ, tài chính xanh và các lĩnh vực cần nguồn vốn dài hạn của nền kinh tế. Tuy nhiên, những mục tiêu này chỉ khả thi khi có một khung pháp lý ổn định, vượt trội và có khả năng tạo niềm tin dài hạn cho các nhà đầu tư.

Điều 23 của dự thảo không chỉ giải quyết một cơ chế đặc thù cho một đô thị mà còn có thể đặt nền móng pháp lý cho một thiết chế tài chính mới, góp phần huy động thêm nguồn lực cho phát triển đất nước.

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương (Đoàn Tây Ninh). Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

* Đại biểu Trịnh Ngọc Phương (Tây Ninh): Trao quyền huy động vốn phải gắn với trách nhiệm trả nợ

Tôi đề nghị hoàn thiện các quy định về Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh theo hướng tăng khả năng huy động, phân bổ và dẫn dắt nguồn vốn quốc tế, đồng thời kiểm soát chặt trách nhiệm tài chính. Không nên đánh giá thành công của Trung tâm tài chính chỉ bằng số lượng ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức tài chính quốc tế được thu hút. Điều quan trọng hơn là khả năng kết nối thị trường quốc tế với nền kinh tế Việt Nam, huy động và dẫn dắt dòng vốn cho các hoạt động phát triển, nhất là những lĩnh vực và dự án cần nguồn vốn trung và dài hạn.

Việc trao cho TP. Hồ Chí Minh các công cụ huy động vốn thông qua Trung tâm tài chính; trong đó có cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình để thực hiện các dự án trọng điểm là cần thiết. Tuy nhiên, quyền huy động vốn cần đi cùng trách nhiệm. Do đó, cần quy định rõ mục đích sử dụng vốn, giới hạn huy động, nghĩa vụ trả nợ và trách nhiệm của thành phố, bảo đảm phù hợp với quy định về ngân sách và an toàn nợ địa phương. Trao quyền huy động vốn cho thành phố theo hướng này phải đồng thời gắn với khả năng trả nợ và trách nhiệm giải trình.

Ngoài ra, Trung tâm tài chính không thể trở thành một “ốc đảo” tách rời nền kinh tế trong nước mà cần tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt Nam có dự án hạ tầng, công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo có nhu cầu vốn quốc tế được tiếp cận các thành viên Trung tâm để tư vấn cấu trúc vốn, huy động vốn quốc tế, kết nối với các quỹ đầu tư và sử dụng dịch vụ tài chính phù hợp.

Bên cạnh đó, cần phân định rõ đâu là cơ chế chung của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam và đâu là cơ chế đặc thù dành cho TP. Hồ Chí Minh. Thống nhất về nguyên tắc và chuẩn mực quản lý không có nghĩa các địa bàn phải có chính sách hoàn toàn giống nhau.

TP. Hồ Chí Minh với quy mô kinh tế, thị trường tài chính, hệ sinh thái doanh nghiệp và nhu cầu huy động vốn lớn cần có không gian chính sách phù hợp để phát huy vai trò đầu tàu. Tuy nhiên, quyền càng mạnh thì trách nhiệm và kiểm soát càng phải rõ. Cơ chế đặc thù vì vậy cần đi cùng trách nhiệm giải trình, kiểm soát nguồn vốn và hoạt động tài chính.

Nếu thực hiện được các yêu cầu này, Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh có thể trở thành cửa ngõ quan trọng để Việt Nam kết nối với thị trường vốn toàn cầu và tạo thêm động lực tăng trưởng cho cả nước.

Thu Hằng - Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

TIN LIÊN QUAN













































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ