Sửa 3 luật ngân hàng cần tạo linh hoạt điều hành, giải quyết vướng mắc pháp lý và kiểm soát chặt rủi ro

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà (Đoàn Tuyên Quang)
Thưa Đại biểu, bà đánh giá như thế nào về sự cần thiết của việc trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng lần này?
ĐBQH Nguyễn Việt Hà: Tôi thống nhất rất cao với sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung 3 luật này. Dự thảo Luật lần này đã ưu tiên xử lý các nội dung mang tính cấp bách, có nhiều nhiệm vụ đặt ra mốc thời gian hoàn thành ngay trong năm nay. Tập trung vào ba nhóm vấn đề trọng tâm:
Thứ nhất, xử lý các vấn đề chịu tác động do sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Ví dụ như quy định tại Nghị định số 26/2025/NĐ-CP ngày 24/2/2025 của Chính phủ, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không còn Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng; các nhiệm vụ, quyền hạn trước đây được chuyển giao cho 03 đơn vị. Theo Nghị quyết 190/2025/QH15 của Quốc hội, các nội dung này phải hoàn thành trước ngày 01/3/2027.
Thứ hai, khắc phục các thiếu hụt trong pháp luật về Phòng, chống rửa tiền (PCRT) theo khuyến nghị của các tổ chức quốc tế như Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG).
Thực tế tính đến tháng 6/2025, Việt Nam còn 22/27 khuyến nghị chưa được APG ghi nhận, trong đó có 16 khuyến nghị liên quan trực tiếp đến sửa đổi Luật PCRT và các văn bản hướng dẫn. Ngoài ra, tháng 10/2026 sẽ đến kỳ đánh giá của OECD – kết quả này tác động trực tiếp đến hợp tác về thuế với Liên minh Châu Âu (EU). Việc sửa đổi luật lần này cũng đồng thời phục vụ việc xây dựng Báo cáo tiến triển kỳ 8 theo cam kết với FATF và phiên làm việc trực tiếp với đoàn rà soát quốc tế diễn ra vào cuối tháng 9/2026. Do đó, dự thảo đã tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về chủ sở hữu hưởng lợi, bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa, hoàn thiện các dấu hiệu đáng ngờ và quy định nhận biết khách hàng…
Thứ ba, việc hoàn thiện thể chế nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng trưởng kinh tế hai chữ số, đa dạng hóa thị trường vốn để đáp ứng cho nền kinh tế.
Nội dung sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã bổ sung quy định áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác nhằm thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đại biểu nhìn nhận quy định này sẽ tạo ra tác động ra sao đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ?
ĐBQH Nguyễn Việt Hà: Dự thảo bổ sung điểm h vào sau điểm g Khoản 2 Điều 59 quy định biện pháp xử lý đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng là: áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tôi đánh giá đây là nội dung rất cần thiết, thể hiện sự quyết tâm và trách nhiệm của Chính phủ, NHNN trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo điều hành của Chính phủ về tăng trưởng hai chữ số. Thời gian qua, việc huy động vốn để tạo dư địa cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) gặp nhiều áp lực. Đặc biệt với chủ trương tăng trưởng hai chữ số, vai trò cấp vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng là rất lớn trong khi các thị trường vốn khác chưa kịp mở rộng. Để tháo gỡ, NHNN đã điều hành rất kịp thời và linh hoạt. Trước những biến động ngày càng lớn, quy định này sẽ giúp NHNN có thêm công cụ điều hành linh hoạt, chủ động để khơi thông nguồn vốn, tạo thêm dư địa cho vay đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, tôi đề nghị Chính phủ rà soát để đưa nội dung này vào điều khoản phù hợp hơn trong Luật NHNN hiện hành. Bởi lẽ, Điều 59 hiện hành quy định về các biện pháp xử lý đối tượng thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro khi có vi phạm; trong khi nội dung mới này lại mang mục đích phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Liên quan đến việc sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền, đặc biệt là các quy định về tài sản mã hóa, Đại biểu có lưu ý gì về tính khả thi khi triển khai trên thực tế?
ĐBQH Nguyễn Việt Hà: Điều 33a dự thảo Luật đã bổ sung 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa trên cơ sở khuyến nghị của FATF. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có những nội dung mang tính kỹ thuật chuyên ngành rất cao, sẽ gây khó khăn lớn khi triển khai nhận diện như: "dịch vụ trộn giao dịch" (khoản 6); "công cụ cho phép ẩn danh", dấu hiệu vận hành từ cùng thiết bị hoặc địa chỉ IP (khoản 8); "cầu nối liên chuỗi" (khoản 10)…
Để nhận diện được đòi hỏi phải có trình độ công nghệ, thậm chí cần công cụ công nghệ chuyên dụng hỗ trợ. Đối với lực lượng giao dịch viên chưa qua đào tạo về công nghệ, giao dịch viên mới, hoặc cán bộ làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng dân tộc thiểu số thì việc thực hiện nhận diện để báo cáo là rất khó khả thi.
Mặt khác, một số quy định còn mang tính định tính, thiếu rõ ràng như: "chia nhỏ giao dịch", thực hiện nhiều giao dịch giá trị lớn trong thời gian ngắn (khoản 1); "nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn" (khoản 2); "không có mối liên hệ hợp lý" (khoản 3); hay "khách hàng có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa" (khoản 11)…
Vì đây là nội dung quy định theo thông lệ quốc tế và khuyến nghị của FATF, nên để đảm bảo tính khả thi trên thực tế, tôi đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung giải thích từ ngữ đối với các vấn đề trên, hoặc giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết để đảm bảo thực hiện thống nhất, hiệu quả.
Dự thảo Luật sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng có bổ sung hoạt động "đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp" cho ngân hàng thương mại. Theo Đại biểu, cần có cơ chế kiểm soát rủi ro ra sao đối với nghiệp vụ này?
ĐBQH Nguyễn Việt Hà: Việc bổ sung hoạt động này vào Điều 114 là cần thiết nhằm đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh này cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định.
Do đó, để triển khai hiệu quả và tránh rủi ro, tôi đề nghị Chính phủ ban hành quy định hướng dẫn chi tiết về điều kiện thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên. Đặc biệt là trách nhiệm thông tin về vai trò đại lý quản lý tài sản bảo đảm đối với bên sở hữu trái phiếu. Điều này vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp và tạo niềm tin cho nhà đầu tư, vừa tránh việc hiểu sai rằng bên quản lý tài sản bảo đảm có trách nhiệm bảo đảm cho trái phiếu (bên quản lý tài sản không phải là bên bảo đảm tài sản cho trái phiếu doanh nghiệp), gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngân hàng đại lý trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm.
Đồng thời, cần phải có quy định kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh xung đột lợi ích trong trường hợp ngân hàng vừa làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm, vừa là bên cấp tín dụng, đồng thời lại là bên sở hữu trái phiếu doanh nghiệp đó.
Xin trân trọng cảm ơn Đại biểu!
Trần Hương (thực hiện)
1 giờ trước
8 giờ trước
19 giờ trước
19 giờ trước
21 giờ trước
21 giờ trước
22 giờ trước
22 giờ trước
22 giờ trước
22 giờ trước
23 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
1 giờ trước
29 phút trước
8 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước