🔍
Chuyên mục: Tài chính

'Tiền xanh' không thiếu, Việt Nam cần làm gì để hút vốn?

54 phút trước
Nếu vốn xanh đã sẵn sàng, thách thức của Việt Nam là tạo ra những dự án đủ tốt, hấp dẫn và minh bạch để hút vốn.

Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD vốn tài trợ khí hậu đến năm 2040 để vừa thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa giảm phát thải. Trong đó, 254 tỷ USD dành cho nâng cấp hạ tầng công, tư và các chương trình xã hội, 114 tỷ USD cho chuyển đổi năng lượng, giao thông, nông nghiệp và công nghiệp hướng tới Net Zero 2050.

Trong khi đó, nguồn lực công hiện chỉ huy động được khoảng 2% GDP mỗi năm và khu vực tư nhân được kỳ vọng trở thành “lực kéo” chính.

Các chuyên gia cho rằng dòng vốn xanh đã sẵn sàng trên thị trường quốc tế. Ảnh: DP

Trước thực tế đó, tại Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam 2026 của FiinGroup, ông Paul Xavier, Cán bộ Chương trình của IFC cho rằng thị trường tài chính bền vững toàn cầu không thiếu vốn. Nhà đầu tư đang chủ động tìm kiếm cơ hội bền vững. Vấn đề là vì sao dòng tiền có thể chảy vào một số thị trường dễ dàng hơn những thị trường khác.

Với Việt Nam, các chuyên gia cho rằng bài toán vì thế không chỉ là cần bao nhiêu tiền mà là làm thế nào biến các dự án cần vốn thành những tài sản đủ khả thi với ngân hàng, hấp dẫn với nhà đầu tư và minh bạch để vốn quốc tế có thể tham gia.

Khi dòng tiền đang đi tìm cơ hội

Quy mô nhu cầu 368 tỷ USD cho thấy khoảng trống tài chính rất lớn. Khi nguồn lực công chỉ đáp ứng một phần nhỏ, thị trường vốn và hệ thống tài chính tư nhân sẽ phải đóng vai trò lớn hơn.

Theo ông Paul Xavier, tài chính bền vững toàn cầu hiện đã mở rộng đáng kể. Nếu trước đây trái phiếu xanh chủ yếu tài trợ năng lượng tái tạo, giao thông xanh hay công trình xanh, hiện thị trường đã có thêm trái phiếu xã hội, trái phiếu bền vững, trái phiếu chuyển đổi và nhiều công cụ chuyên biệt khác.

Điều này đặt ra yêu cầu Việt Nam không chỉ phát hành thêm trái phiếu xanh mà phải xây dựng một hệ sinh thái tài chính phục vụ nhiều lĩnh vực và giai đoạn chuyển đổi.

Một nền tảng quan trọng là cách thị trường xác định thế nào là “xanh”. Nhà đầu tư ở Tokyo, Singapore hay New York cần có cùng cách hiểu về tiêu chuẩn của một dự án tại Việt Nam. Vì vậy, theo ông Xavier, taxonomy (hệ thống phân loại xanh) là một phần của hạ tầng thị trường tài chính, giúp vốn tư nhân và quốc tế tham gia thuận lợi hơn.

Việc Việt Nam phê duyệt Danh mục phân loại xanh vì thế được xem là một dấu mốc quan trọng.

Kinh nghiệm GIFT City cũng cho thấy taxonomy có thể được đặt trong một hệ sinh thái tài chính rộng hơn. Ông Pradeep Ramakrishnan, Giám đốc điều hành, Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính quốc tế (IFSCA), GIFT City, cho biết GIFT City chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế của ASEAN, EU, ICMA và Climate Bonds thay vì xây dựng một hệ thống riêng.

Thông qua các hoạt động tài chính bền vững, IFSCA đã huy động gần 16,8 tỷ USD, trong đó trái phiếu xanh chiếm 57%, trái phiếu xã hội 25%, trái phiếu bền vững 14% và trái phiếu liên kết bền vững 4%.

Do đó, dòng vốn và công cụ đã có. Phần khó hơn nằm ở phía những dự án muốn nhận vốn.

“Xanh” không biến dự án xấu thành dự án tốt

Một dự án có yếu tố “xanh” chưa đủ để thuyết phục nhà đầu tư.

Chủ tịch FiinGroup Nguyễn Quang Thuân cho rằng dự án tốt nếu có thêm yếu tố “xanh” sẽ hấp dẫn hơn và có thể kỳ vọng mức lãi suất tốt hơn. Tuy nhiên, “vốn xanh” không đồng nghĩa vốn rẻ, bởi giá vốn cuối cùng vẫn phụ thuộc vào rủi ro.

Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Ngô Thế Triệu, Nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc Optima Wealth Partners cũng cho rằng nhà đầu tư trước hết quan tâm đến lãi suất, kỳ hạn và khả năng trả nợ. Yếu tố xanh là điểm cộng nếu giúp dự án bền vững hơn, giảm rủi ro.

Chủ tịch FiinGroup Nguyễn Quang Thuân cho rằng giá vốn của tiền cuối cùng vẫn phụ thuộc vào rủi ro. Ảnh: DP

Với các quỹ có yêu cầu đầu tư xanh, yếu tố này mở thêm nhóm nhà đầu tư tiềm năng. Khi đó, dự án cần được đánh giá và định danh thông qua các công cụ như SPO, tức ý kiến đánh giá độc lập của bên thứ hai về một khoản tài chính xanh, thường là trái phiếu xanh hoặc trái phiếu bền vững.

Nhưng ranh giới rất rõ: yếu tố xanh không thể biến một dự án không khả thi thành dự án khả thi. Để trở nên “bankable” và “investable”, doanh nghiệp vẫn phải giải quyết những vấn đề cơ bản như pháp lý, rủi ro EPC, thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo trì.

Điều này khiến tài chính xanh đặt ra yêu cầu cao hơn đối với doanh nghiệp: phải chuẩn bị dự án đủ tốt trước khi gắn nhãn xanh.

Ông Nishant Kumar, Giám đốc Điều hành khu vực châu Á của GuarantCo, cho biết đánh giá tác động bền vững có thể thực hiện song song với thẩm định tín dụng. Vì vậy, chứng nhận xanh không nhất thiết khiến thương vụ kéo dài thêm nhiều tháng.

Quan trọng hơn là khả năng chuẩn bị và cam kết của doanh nghiệp.

Ông Thuân dẫn ví dụ hai lô trái phiếu xanh ngành nước kỳ hạn 20 năm, mức kỳ hạn mà ông cho rằng chưa từng xuất hiện trong lịch sử 30 năm của thị trường trái phiếu doanh nghiệp có lãi suất cố định tại Việt Nam. Một giao dịch khác là trái phiếu 15 năm cho ngành điện mặt trời mái nhà của doanh nghiệp FDI.

Những giao dịch này cho thấy yếu tố xanh có thể mở cánh cửa tới nguồn vốn dài hạn, nhưng đổi lại doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu cao hơn về mô hình hoạt động, sử dụng vốn và báo cáo tác động.

Sau giải ngân, doanh nghiệp vẫn phải chứng minh tiền được sử dụng đúng mục đích và đúng tiêu chí xanh đã cam kết. Tài chính xanh vì thế tạo ra một chuỗi yêu cầu kéo dài từ thiết kế dự án đến sau khi dòng tiền được giải ngân.

Từ vốn xanh đến cả hệ sinh thái

Nếu nút thắt nằm ở chất lượng dự án và khả năng kết nối với nhà đầu tư, Việt Nam khó giải quyết bài toán tài chính xanh chỉ bằng cách tăng tín dụng hay phát hành thêm trái phiếu xanh.

Kinh nghiệm GIFT City cho thấy cần xây dựng cả một hệ sinh thái tài chính.

Tại IFSCA, khoảng 40 ngân hàng đang hoạt động, chia đều giữa ngân hàng trong nước và quốc tế. Các ngân hàng phải dành 5% tín dụng tăng thêm cho các dự án phát triển bền vững, với tổng số tiền đến nay khoảng 6,28 tỷ USD, cho các lĩnh vực từ năng lượng tái tạo, công trình xanh đến nhà ở giá phải chăng, an ninh lương thực và y tế.

Thị trường vốn cũng có khung trái phiếu chuyển đổi cho các ngành khó giảm phát thải. Các kế hoạch chuyển đổi phải phù hợp Thỏa thuận Paris, có mục tiêu giảm phát thải dựa trên cơ sở khoa học và được đánh giá độc lập.

IFSCA hiện có hơn 300 quỹ, trong đó có ba quỹ ESG, với yêu cầu công bố chiến lược và báo cáo định kỳ về mức độ tuân thủ mục tiêu ESG.

Như vậy, vốn xanh được kết nối từ ngân hàng, trái phiếu đến quỹ đầu tư và quản lý tài sản.

Cần xây dựng cả một hệ sinh thái tài chính cho dòng vốn "xanh". Ảnh: HA

Cấu trúc quản lý cũng là một bài học. GIFT City mất khoảng 8 năm đầu với mô hình nhiều cơ quan cùng quản lý. Theo ông Pradeep Ramakrishnan, việc phối hợp Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI), Ủy ban Chứng khoán và giao dịch Ấn Độ (SEBI) và các cơ quan khác để tạo một quy trình thống nhất rất khó. IFSCA sau đó được thành lập với vai trò cơ quan quản lý thống nhất từ ngân hàng, chứng khoán đến bảo hiểm và lương hưu.

Đúc kết lại, ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng Việt Nam có thể tham khảo năm yếu tố: ưu đãi, trọng tài quốc tế, sandbox, kiểm soát dòng tiền và các sản phẩm đủ “bankable”, “investable”. Các sản phẩm bền vững cần được đánh giá, gắn nhãn và minh bạch cả ở tín dụng ngân hàng lẫn trái phiếu.

Việt Nam cần 368 tỷ USD vốn khí hậu đến năm 2040, trong khi nguồn lực công không đủ và vốn quốc tế đang tìm kiếm cơ hội đầu tư bền vững.

Khoảng cách vì thế không nằm ở việc tìm tiền, mà ở khả năng biến nhu cầu vốn thành dự án có thể đầu tư, sản phẩm có thể giao dịch và thị trường đủ minh bạch để định giá rủi ro.

GIFT City đã mất khoảng 15 năm để xây dựng hệ sinh thái tài chính. Ông Thuân kỳ vọng Việt Nam có thể rút ngắn xuống 3-5 năm, qua đó huy động thêm vốn cho nền kinh tế và giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Nếu vốn xanh đã sẵn sàng trên thị trường quốc tế, thách thức trước mắt của Việt Nam là làm sao để dự án đủ tốt để ngân hàng cho vay, đủ hấp dẫn để nhà đầu tư rót vốn và đủ minh bạch để dòng tiền được sử dụng đúng mục đích.

Nam Hải

TIN LIÊN QUAN
































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ