🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Tín dụng xanh tăng mạnh, nhưng doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn

5 giờ trước
Dư nợ tín dụng xanh đã tăng gấp 4,6 lần sau gần một thập kỷ triển khai, nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cũng từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên, những vướng mắc về tiêu chí dự án xanh, dữ liệu môi trường và năng lực đáp ứng các yêu cầu ESG của doanh nghiệp vẫn đang ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tín dụng xanh duy trì đà tăng trưởng

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh ngày càng trở thành yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế, tín dụng xanh được xem là một trong những công cụ quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân đầu tư vào các dự án thân thiện với môi trường, giảm phát thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh, động lực cho tăng trưởng kinh tế” diễn ra ngày 23/6, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, trong những năm qua, ngành ngân hàng đã chủ động lồng ghép các mục tiêu tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình điều hành, đồng thời xây dựng nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy tín dụng xanh và phát triển bền vững.

Theo bà Hà Thu Giang, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các định hướng phát triển ngân hàng xanh, quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; đồng thời hoàn thiện nhiều quy định liên quan đến hoạt động cho vay đối với các lĩnh vực bảo vệ môi trường, phát thải carbon thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, ngành ngân hàng cũng đã hướng dẫn các tổ chức tín dụng ưu tiên bố trí nguồn vốn cho các dự án thuộc danh mục phân loại xanh; các dự án sản xuất, kinh doanh bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn. Nhờ đó, tín dụng xanh tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng tích cực.

Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước công bố tại hội thảo, hiện có 82 tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng xanh với tổng dư nợ đạt trên 828 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 4,6 lần so với thời điểm bắt đầu triển khai năm 2017. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2017-2025 đạt trên 20% mỗi năm.

Dư nợ tín dụng xanh hiện tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm trên 32%; năng lượng xanh chiếm trên 30%. Trong khi đó, dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đã đạt trên 5,7 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 30% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Bà Hà Thu Giang cho biết nhu cầu vốn cho phát triển xanh và chuyển đổi xanh hiện rất lớn trong khi khả năng cân đối nguồn lực của hệ thống ngân hàng còn nhiều thách thức. Nguồn vốn quốc tế có chi phí cao, tiềm ẩn rủi ro tỷ giá và thủ tục tiếp cận phức tạp. Trong khi đó, thị trường trái phiếu xanh và thị trường carbon trong nước vẫn chưa phát triển đồng bộ.

Đại diện tổ chức tín dụng, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, đến cuối năm 2025, Agribank có gần 39.000 khách hàng được cấp tín dụng thuộc lĩnh vực xanh, với tổng dư nợ gần 28.000 tỷ đồng. Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, lâm nghiệp bền vững và nông nghiệp xanh.

Theo ông Ngọc, Agribank đang triển khai nhiều chương trình tín dụng phục vụ phát triển bền vững, trong đó có chương trình cho vay phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch với quy mô tối thiểu 50.000 tỷ đồng; chương trình tín dụng phục vụ Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng.

Mặc dù vậy, theo nhận định của các chuyên gia, quy mô tín dụng xanh hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn rất lớn cho quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế và dữ liệu

Theo ông Nguyễn Hồng Quang, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đã từng bước hình thành nền tảng chính sách quan trọng cho phát triển tín dụng xanh.

Hình ảnh tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh, động lực cho tăng trưởng kinh tế”.

Ông Quang cho biết Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cùng các cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đã tạo định hướng cho phát triển tài chính xanh. Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lần đầu tiên dành một điều riêng quy định về tín dụng xanh; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP đã cụ thể hóa cơ chế khuyến khích và lộ trình triển khai tín dụng xanh.

Một bước tiến đáng chú ý là việc ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Theo ông Nguyễn Hồng Quang, đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp xác định các dự án đáp ứng tiêu chí môi trường, làm căn cứ triển khai các chính sách ưu đãi liên quan đến tín dụng xanh và trái phiếu xanh.

Tuy nhiên, ông Quang cũng cho rằng tín dụng xanh hiện vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Một trong những khó khăn lớn là nhận thức và cách hiểu về tín dụng xanh, tài chính xanh, đầu tư xanh, dự án xanh và phân loại xanh vẫn chưa thực sự thống nhất giữa các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có đầy đủ thông tin, năng lực kỹ thuật và nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu liên quan đến dự án xanh hoặc tiêu chuẩn ESG.

Bên cạnh đó, khung pháp lý liên quan đến tín dụng xanh hiện vẫn phân tán ở nhiều văn bản thuộc các lĩnh vực môi trường, tài chính, ngân hàng và đầu tư. Danh mục phân loại xanh mới được ban hành nên cần thêm thời gian để vận hành đồng bộ và thống nhất trên thực tế.

Một vấn đề khác được cả cơ quan quản lý và các tổ chức tín dụng cùng đề cập là sự thiếu hụt dữ liệu phục vụ hoạt động tín dụng xanh.

Theo ông Nguyễn Hồng Quang, việc đánh giá một dự án xanh không chỉ dựa trên khả năng trả nợ mà còn cần xác định được mức độ giảm phát thải khí nhà kính, hiệu quả sử dụng tài nguyên, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các lợi ích môi trường khác. Tuy nhiên, việc thiếu các bộ chỉ số đo lường, cơ sở dữ liệu chuẩn hóa và cơ chế chia sẻ thông tin đang làm gia tăng chi phí thẩm định, giám sát và quản lý rủi ro.

Ông Nguyễn Quang Ngọc cũng cho biết từ thực tiễn triển khai, các tổ chức tín dụng và khách hàng vẫn đang gặp nhiều vướng mắc. Hiện chưa có hệ thống ngành kinh tế xanh quốc gia và danh mục dự án xanh được chuẩn hóa, công khai để phục vụ thu thập dữ liệu và đánh giá dự án theo các tiêu chuẩn ESG. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa có đầy đủ hồ sơ môi trường, năng lực lập báo cáo ESG còn hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và thiếu tài sản bảo đảm.

Theo đại diện Agribank, các dự án xanh thường cần nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý, song nguồn nhân lực có chuyên môn về môi trường và xã hội phục vụ công tác thẩm định hiện vẫn còn thiếu. Đây cũng là một trong những thách thức đối với việc mở rộng tín dụng xanh trong thời gian tới.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn này trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung nguồn vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vay vốn tại các ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn ESG. Theo đề xuất, mức hỗ trợ lãi suất dự kiến là 2%/năm. Sau khi Nghị định được ban hành, Ngân hàng Nhà nước sẽ xây dựng Thông tư hướng dẫn để các ngân hàng thương mại triển khai thực hiện.

Các đại biểu cũng cho rằng cần sớm hoàn thiện hướng dẫn về dự án xanh và khung tiêu chuẩn ESG; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường phục vụ hoạt động thẩm định tín dụng; phát triển thị trường trái phiếu xanh và thị trường carbon để tạo thêm các kênh huy động vốn cho quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Sau nhiều năm xây dựng cơ chế, chính sách, tín dụng xanh tại Việt Nam đang bước sang giai đoạn tập trung nhiều hơn vào hiệu quả thực thi. Việc hoàn thiện tiêu chí nhận diện dự án xanh, nâng cao năng lực của doanh nghiệp và xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ sẽ là những điều kiện quan trọng để dòng vốn xanh được phân bổ hiệu quả hơn trong thời gian tới.

MINH PHƯƠNG

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ