🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Kiều bào có thể trở thành cầu nối kinh tế thực chất giữa Việt Nam và Nhật Bản

2 giờ trước
Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy, từ vận động, tập hợp và chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và huy động nguồn lực kiều bào phục vụ sự phát triển đất nước.

Ông Trần Trung Kiên, Tổng Thư ký Hiệp hội Xúc tiến hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJECPA), chia sẻ với phóng viên TTXVN về vai trò của kiều bào trong thúc đẩy hợp tác song phương. Ảnh: Xuân Giao/PV TTXVN tại Nhật Bản

Để làm rõ những cơ hội cũng như các giải pháp đưa chủ trương này vào thực tiễn, phóng viên TTXVN tại Nhật Bản đã trao đổi với ông Trần Trung Kiên, Tổng Thư ký Hiệp hội Xúc tiến hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJECPA), về vai trò của cộng đồng doanh nhân, trí thức và chuyên gia người Việt tại Nhật Bản trong thúc đẩy hợp tác giữa hai nước.

Theo ông Trần Trung Kiên, một trong những điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết số 23-NQ/TW là sự thay đổi trong tư duy về vị trí và vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đồng thời là một nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia và làm cầu nối giữa Việt Nam với thế giới. Ông cho rằng đây là bước phát triển quan trọng so với cách tiếp cận trước đây, trong bối cảnh cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có nhiều thay đổi.

Hiện có trên 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, đồng thời cơ cấu độ tuổi cũng ngày càng trẻ hóa. Vì vậy, nguồn lực của kiều bào không chỉ nằm ở vốn đầu tư hay kiều hối, mà còn bao gồm tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới kinh doanh, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và đặc biệt là sự am hiểu cả Việt Nam lẫn nước sở tại.

Tổng Thư ký VJECPA đánh giá cao chủ trương nâng tầm tư duy từ “vận động, tập hợp, chăm lo” lên “đồng hành, kiến tạo cơ chế và huy động nguồn lực”, qua đó tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đây cũng là điều cộng đồng doanh nhân và chuyên gia người Việt tại Nhật Bản mong muốn.

Đề cập những cơ hội mà Nghị quyết số 23-NQ/TW mở ra, ông Trần Trung Kiên cho rằng Nhật Bản đang sở hữu nhiều thế mạnh phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, tự động hóa, nông nghiệp công nghệ cao, y tế, chăm sóc người cao tuổi, giáo dục, đào tạo nhân lực, chuyển đổi số, công nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Trong khi đó, cộng đồng người Việt tại Nhật Bản có nhiều người đang trực tiếp làm việc trong những lĩnh vực này. Họ vừa am hiểu công nghệ và phương thức vận hành của doanh nghiệp Nhật Bản, vừa hiểu văn hóa, con người và thị trường Việt Nam. Đây là lợi thế quan trọng để thúc đẩy các hoạt động chuyển giao tri thức, công nghệ và kết nối kinh doanh giữa hai nước.

Theo ông, thay vì chỉ đặt câu hỏi kiều bào có thể mang gì về Việt Nam, cần xuất phát từ những vấn đề Việt Nam đang cần giải quyết, sau đó xác định những cá nhân hoặc tổ chức trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài có khả năng tham gia. Một chuyên gia người Việt tại Nhật Bản không nhất thiết phải trở về nước làm việc lâu dài mà có thể tham gia dự án chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tư vấn quản trị hoặc kết nối doanh nghiệp hai nước. Tương tự, một doanh nhân người Việt tại Nhật Bản không chỉ đóng góp thông qua nguồn vốn của mình, mà còn có thể giúp đưa doanh nghiệp, công nghệ hoặc chuỗi phân phối của Nhật Bản vào Việt Nam.

Ông Trần Trung Kiên cho rằng nếu tận dụng tốt mạng lưới người Việt tại Nhật Bản, hai nước có thể hình thành một hệ sinh thái kết nối hai chiều: không chỉ đưa nguồn lực Nhật Bản về Việt Nam, mà còn hỗ trợ sản phẩm, doanh nghiệp và thương hiệu Việt Nam tiếp cận thị trường Nhật Bản. Đây là cách để cộng đồng người Việt tại Nhật thực sự trở thành cầu nối kinh tế giữa hai quốc gia.

Từ thực tiễn thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, Tổng Thư ký VJECPA nhận định khó khăn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu người mong muốn đóng góp, mà là chưa có cơ chế đủ hiệu quả để biến mong muốn đó thành những chương trình hợp tác cụ thể. Một chuyên gia người Việt tại Nhật Bản có thể sở hữu công nghệ hoặc kinh nghiệm tốt, nhưng khi muốn đưa nguồn lực ấy về Việt Nam thường phải đối mặt với nhiều câu hỏi: doanh nghiệp hoặc địa phương nào đang có nhu cầu, cơ quan nào tiếp nhận và cơ chế hợp tác được thực hiện ra sao. Nếu không có đầu mối kết nối phù hợp, người có nguồn lực và nơi cần nguồn lực sẽ khó gặp được nhau.

Một trở ngại khác là sự khác biệt giữa hai thị trường. Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn rất cao. Để thâm nhập thị trường này, sản phẩm Việt Nam không chỉ cần có chất lượng tốt mà còn phải đáp ứng yêu cầu về quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, bao bì, chứng nhận và khả năng cung ứng ổn định. Vì vậy, hoạt động kết nối không thể chỉ dừng ở việc đưa hai doanh nghiệp đến gặp nhau, mà cần có sự đồng hành từ khâu tìm hiểu nhu cầu, lựa chọn đối tác, hoàn thiện sản phẩm và tiêu chuẩn hóa đến tìm kiếm thị trường và triển khai hợp tác. Trong quá trình hoạt động, VJECPA cũng xác định vai trò là một đầu mối kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp, hợp tác giáo dục, quảng bá văn hóa Việt Nam và hỗ trợ cộng đồng người Việt tại khu vực Kansai.

Bên cạnh đó, khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước cũng là vấn đề cần được quan tâm. Chuyển giao công nghệ không đơn giản là đưa một thiết bị hoặc dây chuyền từ Nhật Bản về Việt Nam. Điều quan trọng là doanh nghiệp Việt Nam có đội ngũ đủ năng lực vận hành, duy trì và tiếp tục phát triển công nghệ hay không. 

Do đó, để thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW, cần xây dựng cơ chế kết nối có chiều sâu, trong đó kiều bào không chỉ đưa nguồn lực về nước mà còn đồng hành với các doanh nghiệp trong nước, bảo đảm những nguồn lực đó được tiếp nhận và phát huy hiệu quả. Theo ông Trần Trung Kiên, Nghị quyết số 23-NQ/TW đặt ra cho các tổ chức như VJECPA trách nhiệm trở thành cầu nối thực chất, thay vì chỉ dừng lại ở hoạt động kết nối mang tính hình thức. Trong thời gian tới, VJECPA có thể tập trung xây dựng mạng lưới doanh nhân, chuyên gia và trí thức người Việt tại Nhật Bản, đặc biệt là những người có chuyên môn sâu trong các lĩnh vực Việt Nam đang có nhu cầu.

Cùng với đó, hiệp hội cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhu cầu của Việt Nam và các nguồn lực hiện có tại Nhật Bản. Khi một địa phương hoặc doanh nghiệp Việt Nam cần công nghệ, chuyên gia hay đối tác Nhật Bản, hệ thống này phải giúp tìm được đúng người, đúng lĩnh vực và đúng nhu cầu. Một nhiệm vụ khác là tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường Nhật Bản. Hoạt động hỗ trợ không nên chỉ dừng ở việc giới thiệu sản phẩm, mà cần bao gồm hoàn thiện tiêu chuẩn, kết nối đối tác, xúc tiến thương mại và tìm kiếm hệ thống phân phối phù hợp. Đây cũng là hướng VJECPA đã triển khai thông qua các chương trình kết nối doanh nghiệp và xúc tiến thương mại tại Nhật Bản. 

Theo Tổng Thư ký VJECPA, một yếu tố đặc biệt quan trọng là phải xây dựng cơ chế theo dõi kết quả sau kết nối. Việc tổ chức một cuộc gặp hoặc ký kết biên bản ghi nhớ chưa thể được xem là thành công. Hiệu quả cần được đánh giá dựa trên những kết quả cụ thể như số dự án được triển khai, công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp thiết lập quan hệ hợp tác hoặc sản phẩm Việt Nam thâm nhập thành công thị trường Nhật Bản. Khi hoạt động kết nối tạo ra kết quả thực chất, niềm tin của kiều bào và các đối tác Nhật Bản sẽ được củng cố. Đây cũng là cách cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW: không chỉ vận động nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, mà còn kiến tạo cơ chế để nguồn lực ấy được kết nối, sử dụng hiệu quả và tạo ra giá trị thiết thực cho đất nước.

Nguyễn Tuyến (TTXVN)

TIN LIÊN QUAN




































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ