Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Từng đồng đầu tư công, chi ngân sách đều phải tính đến hiệu quả

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu (Ảnh: ĐT)
Nguồn lực lớn hơn, yêu cầu về hiệu quả phải cao hơn
Thảo luận tại tổ về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội là cách thức hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công nhằm vừa đơn giản hóa quy trình, khắc phục chồng chéo, vừa bảo đảm không phát sinh khoảng trống pháp lý.
Cùng với đó là yêu cầu gắn kết kế hoạch tài chính 5 năm với kế hoạch đầu tư công trung hạn; tăng cường phân cấp, phân quyền trong quyết định phân bổ, điều chỉnh và sử dụng ngân sách, vốn đầu tư công nhưng phải đi cùng cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực.
Giải thích rõ hơn tư tưởng của việc hợp nhất, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đặt vấn đề từ yêu cầu huy động và sử dụng nguồn lực phục vụ các mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới.
Theo Bộ trưởng, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, tỷ lệ vốn đầu tư cần tăng từ khoảng 31-32% GDP hiện nay lên khoảng 40% GDP mỗi năm. Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở quy mô vốn huy động mà quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn. Bộ trưởng cho biết, hệ số ICOR giai đoạn 2021-2025 khoảng 6,4 và yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là giảm xuống khoảng 4,5-4,8.
“Từng đồng đầu tư công, từng đồng chi tiêu của ngân sách là chúng ta đều phải tính đến hiệu quả”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Yêu cầu này càng trở nên đáng chú ý khi quy mô nguồn lực dự kiến huy động cho đầu tư công giai đoạn 2026-2030 rất lớn. Theo Bộ trưởng, tổng nguồn lực đầu tư công cần huy động khoảng 8,2 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương khoảng 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương khoảng 4,42 triệu tỷ đồng. Đầu tư công dự kiến chiếm khoảng 20-22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Từ bài toán đó, người đứng đầu ngành Tài chính cho rằng, nếu không nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn thì khó có thể huy động đủ nguồn lực phục vụ phát triển. Đây cũng là cơ sở để đặt yêu cầu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội đối với từng dự án, không chỉ ở đầu tư mà cả trong chi thường xuyên.
Quan điểm lấy hiệu quả làm thước đo cũng nhận được sự quan tâm của các đại biểu tại tổ.
Đại biểu Vũ Ngọc Lâm (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh) cơ bản tán thành việc tích hợp Luật Đầu tư công với Luật Ngân sách nhà nước, đồng thời cho rằng lần sửa đổi này cần giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phân cấp, phân quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị luật hóa các nguyên tắc, tiêu chí và phương pháp cơ bản về đánh giá hiệu quả dự án để làm cơ sở cho các bộ, ngành hướng dẫn cụ thể. Theo đại biểu, thực tế thẩm định chủ trương đầu tư tại các địa phương, bộ, ngành đang gặp khó khăn do thiếu những quy định pháp lý cụ thể về vấn đề này.
Đại biểu cũng đề nghị phân định rõ trách nhiệm giữa bước thẩm định chủ trương đầu tư và bước lập dự án đầu tư. Bởi ở giai đoạn quyết định chủ trương, nhiều thông số đầu vào mới ở mức dự kiến, sơ bộ, trong khi trách nhiệm đối với thất thoát, lãng phí phát sinh trong quá trình thực hiện cần được xác định phù hợp với từng giai đoạn.
Không chỉ yêu cầu đo lường hiệu quả, việc thiết kế thủ tục cũng cần tương xứng với quy mô và tính chất dự án. Đại biểu Vũ Ngọc Lâm cho rằng, áp dụng thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với tất cả dự án có thể làm tăng trình tự hành chính và kéo dài thời gian chuẩn bị. Vì vậy, với những dự án quy mô nhỏ, chi phí chuẩn bị đầu tư thấp, có thể nghiên cứu không bắt buộc lập chủ trương đầu tư hoặc thiết kế một quy trình đơn giản, nhanh gọn hơn.
Phân cấp mạnh nhưng “địa phương phải sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ”
Nếu đánh giá hiệu quả là một trụ cột, phân cấp, phân quyền là trụ cột thứ hai được Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh trong lần sửa đổi này.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, tư tưởng quan trọng của việc sửa Luật Ngân sách nhà nước và các chương trình mục tiêu quốc gia là “đánh giá hiệu quả” và “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”.
Từ thực tế điều hành ngân sách, Bộ trưởng chỉ ra một vấn đề cần được xem xét là việc quy định cứng tỷ lệ chi cho một số lĩnh vực. Theo ông, cộng các tỷ lệ chi trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, đổi mới sáng tạo và bảo vệ môi trường lên tới 27,5%, trong khi nhu cầu và khả năng cân đối của từng địa phương rất khác nhau.
Bộ trưởng lấy ví dụ, quy định bố trí 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục có thể không phù hợp đồng đều giữa các địa phương. Những địa phương có nguồn lực lớn có thể không còn nhu cầu chi tương ứng với tỷ lệ này, trong khi ở các tỉnh khó khăn, phần lớn chi giáo dục lại dành cho tiền lương và con người.
Bởi vậy, phân cấp không chỉ là chuyển một số thẩm quyền từ Trung ương xuống địa phương, mà còn phải tạo không gian để địa phương lựa chọn cách sử dụng nguồn lực phù hợp với mục tiêu được giao.
Tinh thần này cũng được Bộ trưởng thể hiện khi trao đổi về việc hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia. Theo ông, Trung ương tập trung xác định mục tiêu, cơ chế và thực hiện giám sát; địa phương được chủ động, linh hoạt bố trí các chương trình cụ thể và thời điểm thực hiện để đạt mục tiêu đề ra. “Địa phương là phải sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Quan điểm tăng quyền chủ động cho địa phương cũng xuất hiện trong các ý kiến tại tổ, dù cách tiếp cận đối với một số cơ chế cụ thể còn khác nhau.
Đại biểu Vũ Ngọc Lâm đề nghị mở rộng phạm vi sử dụng nguồn tăng thu ngân sách địa phương, cho phép linh hoạt phân bổ nguồn tăng thu sang chi đầu tư cho các dự án theo mục tiêu chung. Đại biểu cũng đề xuất nghiên cứu cho phép xử lý, phân bổ sớm khi số tăng thu trong năm đã được xác định chắc chắn, thay vì phải chờ kết thúc niên độ ngân sách.
Với dự phòng ngân sách, đại biểu cho rằng cần bảo đảm không gian chủ động cho địa phương xử lý những nhiệm vụ phát sinh ngoài dự toán đầu năm, thay vì giới hạn quá hẹp ở các nhiệm vụ “cấp bách”.
Tuy nhiên, phân cấp càng mạnh càng đặt ra yêu cầu xác định rõ trách nhiệm. Đây chính là điểm gặp nhau giữa trao quyền và đánh giá hiệu quả: cấp nào có quyền quyết định phân bổ, điều chỉnh và sử dụng nguồn lực thì cũng phải chịu trách nhiệm tương ứng về kết quả.
Khơi thông vốn xã hội, không để ngân sách “gánh” những dự án tư nhân có thể tham gia
Một vấn đề đáng chú ý khác tại phiên thảo luận là mối quan hệ giữa đầu tư công và huy động nguồn lực xã hội.
Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa bày tỏ đồng tình với việc hợp nhất hai luật nhằm giảm thủ tục và các quy định chồng chéo. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị quan tâm hơn đến huy động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), thay vì để ngân sách nhà nước tập trung quá nhiều nguồn lực vào những dự án mà khu vực tư nhân có khả năng tham gia.
Theo cách đặt vấn đề của đại biểu, ở những địa bàn, dự án có điều kiện thuận lợi và khả năng sinh lợi, cần tạo điều kiện huy động đầu tư tư nhân; nguồn lực Nhà nước nên dành nhiều hơn cho những khu vực khó khăn, nơi khả năng thu hồi vốn của nhà đầu tư thấp.
Trao đổi về đề xuất này, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết ông “rất ủng hộ” việc huy động nguồn lực xã hội đầu tư vào hạ tầng. Theo Bộ trưởng, tỷ lệ tham gia giữa vốn Nhà nước và vốn tư nhân không nên được nhìn nhận cứng nhắc mà phải căn cứ điều kiện của từng dự án, từng địa bàn. Ở những nơi có khả năng khai thác tốt quỹ đất và các nguồn lực khác, tỷ trọng vốn tư nhân có thể cao hơn; ngược lại, tại những địa bàn khó khăn, yêu cầu tỷ lệ vốn tư nhân quá cao sẽ khó bảo đảm khả năng thu hồi vốn.
Điều cốt lõi, theo Bộ trưởng, là thay đổi phương thức quản lý để nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch.
Cách tiếp cận này cũng được đặt vào quá trình phân bổ vốn đầu tư công giai đoạn tới. Bộ trưởng cho biết, bên cạnh các công trình liên kết, có tính lan tỏa, việc phân bổ cần khuyến khích những dự án hạ tầng có khả năng huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là đầu tư tư nhân.
Một con đường, theo cách phân tích của Bộ trưởng, không nên chỉ được đánh giá ở số vốn bỏ ra hay việc công trình có hoàn thành đúng kế hoạch hay không. Cần tính tới tác động kinh tế - xã hội đối với khu vực mà tuyến đường đi qua, khả năng thúc đẩy phát triển vùng và khai thác các nguồn lực về đất ở, đô thị, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch hai bên tuyến. Đó chính là cách hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư được đặt vào bài toán rộng hơn về huy động và sử dụng nguồn lực.
Từ những vấn đề được đặt ra tại phiên thảo luận, việc hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công vì thế không chỉ nhằm giảm một số quy trình hay đưa hai hệ thống quy định về cùng một luật. Điều quan trọng hơn là tạo cơ sở cho một phương thức quản lý nguồn lực công linh hoạt hơn nhưng trách nhiệm hơn: giảm những ràng buộc không còn phù hợp, trao thêm quyền chủ động cho địa phương, huy động tốt hơn nguồn lực xã hội và lấy hiệu quả cuối cùng làm thước đo.
Khi nhu cầu vốn cho phát triển ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra tại phiên thảo luận cũng chính là điểm cốt lõi của bài toán này: “Từng đồng đầu tư công, từng đồng chi tiêu của ngân sách” đều phải được tính đến hiệu quả.
Trần Hương
9 phút trước
40 phút trước
40 phút trước
49 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
1 phút trước
4 phút trước
4 phút trước
9 phút trước
12 phút trước