Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Không để gián đoạn chính sách, nguồn lực
Tại Kết luận số 209/KL-UBTVQH16 ngày 23/8/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cơ bản thống nhất với Báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính phủ và ý kiến của Thường trực Hội đồng Dân tộc về dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
UBTVQH đề nghị Chính phủ tiếp tục hoàn thiện đồng bộ dự thảo Nghị quyết, Báo cáo tiếp thu, giải trình và các tài liệu liên quan để trình Quốc hội xem xét, biểu quyết tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Bảo đảm chuyển tiếp, không bỏ sót chính sách
Một trong những yêu cầu trọng tâm của UBTVQH là dự thảo Nghị quyết phải bảo đảm đầy đủ các nội dung thuộc chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư công, trong đó giữ nguyên mục tiêu, nguồn lực, đối tượng, phạm vi và các cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội quyết định tại 4 chương trình trước khi tích hợp.
Cùng với đó, phải quy định thống nhất thời điểm 4 nghị quyết hiện hành chấm dứt hiệu lực và xác định rõ phạm vi tiếp tục áp dụng cơ chế hiện hành đối với nhiệm vụ, dự án, dự toán, hợp đồng, vốn kéo dài, tài sản và đối tượng đã được phê duyệt. Cơ chế lập, phân bổ, giao và tổ chức thực hiện kế hoạch, dự toán năm 2027 cũng phải được làm rõ, bảo đảm quá trình chuyển sang cơ chế mới không làm gián đoạn Chương trình.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 bảo đảm toàn bộ nhiệm vụ, chính sách còn phù hợp của 4 chương trình hiện hành. Ảnh minh họa.
Theo Báo cáo số 699/BC-BTC ngày 23/8/2026, Chính phủ đã tiếp thu theo hướng Chương trình mới kế thừa đầy đủ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện, tổng nguồn lực và các cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số 162/2024/QH15, Nghị quyết số 249/2025/QH15, Nghị quyết số 257/2025/QH15 và Nghị quyết số 262/2025/QH15.
Dự thảo cũng được bổ sung quy định chuyển tiếp để triển khai các nhiệm vụ, dự án của 4 chương trình đã được phê duyệt trong năm 2026, đồng thời tiếp tục lập dự toán chuẩn bị cho năm 2027, bảo đảm tính liên tục trước và sau khi hợp nhất.
UBTVQH đồng thời yêu cầu Nghị quyết của Chính phủ phải bảo đảm toàn bộ nhiệm vụ, chính sách còn phù hợp của 4 chương trình hiện hành được kế thừa đầy đủ, có nguồn lực tương ứng, không để thay đổi cấu trúc nhiệm vụ làm bỏ sót chính sách.
Tiếp thu nội dung này, Bộ Tài chính cho biết, Chính phủ đã rà soát chi tiết các nội dung của 4 chương trình, phân loại, loại bỏ trùng lặp và sắp xếp vào 4 nhóm nội dung trọng tâm của CTMTQG phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 tại Nghị quyết của Quốc hội, đồng thời cụ thể hóa thành 7 nhóm nhiệm vụ chi tiết tại Nghị quyết của Chính phủ. Việc phân nhóm chỉ thay đổi cách thức tổ chức quản lý, không làm mất nội dung, chính sách.
Đối với cơ cấu và điều chuyển nguồn lực, Chính phủ dự kiến nguyên tắc cơ cấu lại phải gắn với kết quả thực hiện mục tiêu, nhu cầu thực tế và tính chất nhiệm vụ; không làm giảm nguồn lực thực hiện các chính sách hỗ trợ trực tiếp, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa, đào tạo nghề, tạo việc làm và chính sách dân tộc.
Phân bổ vốn sát nhu cầu, phân cấp gắn với điều kiện thực hiện
Về nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn, UBTVQH yêu cầu, việc ưu tiên các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương từ 60% trở lên phải kết hợp với các tiêu chí phản ánh mức độ khó khăn, quy mô đối tượng, mức thiếu hụt dịch vụ cơ bản và các tiêu chuẩn, định mức chuyên ngành.
Đồng thời, cần kết hợp kết quả giải ngân với hỗ trợ chuẩn bị đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật; phân biệt nguyên nhân chủ quan, khách quan khi giảm, điều chuyển vốn và có cơ chế bảo lưu nguồn lực cho các nhu cầu thiết yếu, chính sách bắt buộc. Tỷ lệ đối ứng cũng phải phù hợp khả năng cân đối của từng nhóm địa phương, không để vốn đối ứng trở thành rào cản tiếp cận ngân sách trung ương.
Bộ Tài chính cho biết, Chính phủ dự kiến áp dụng thống nhất mức độ ưu tiên đối với các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương từ 60% trở lên; đồng thời xây dựng tiêu chí, hệ số phân bổ kết hợp mức độ khó khăn, nhu cầu thực tế với kết quả thực hiện mục tiêu và giải ngân. Các trường hợp thiên tai, dịch bệnh cũng được tính đến trong tiêu chí đánh giá, với điều khoản loại trừ phù hợp.
Đối ứng ngân sách địa phương được rà soát, điều chỉnh theo hướng xác định mức hoặc tỷ lệ phù hợp với khả năng cân đối của từng nhóm địa phương, nhất là địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa phương khó khăn. Chính phủ không áp dụng cứng một tỷ lệ chung cho mọi địa phương, qua đó không để vốn đối ứng trở thành rào cản làm mất khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân sách trung ương.
Với phân cấp, phân quyền, UBTVQH yêu cầu phải gắn với nguồn lực, tiêu chuẩn, định mức, dữ liệu, nhân lực, năng lực quản lý, kinh phí quản lý, hậu kiểm, công khai, kiểm toán và trách nhiệm giải trình. Việc phân cấp cho cấp xã phải dựa trên điều kiện thực tế; nơi chưa đủ điều kiện, cấp tỉnh phải trực tiếp thực hiện hoặc hỗ trợ trong thời gian chuyển tiếp.
Theo Bộ Tài chính, dự thảo Nghị quyết của Chính phủ được hoàn thiện theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, nhưng phân cấp phải đi cùng điều kiện bảo đảm thực hiện. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phạm vi phân cấp cho cấp xã căn cứ năng lực quản lý, nhân lực, hệ thống dữ liệu và điều kiện thực tiễn của từng địa phương, không áp dụng đồng loạt một mô hình cho tất cả địa bàn.
Đối với cấp xã chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, cấp tỉnh có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện hoặc hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật, chuẩn bị đầu tư, quản lý tài chính, dữ liệu và kiểm soát nội bộ trong thời gian chuyển tiếp. Việc phân cấp đồng thời phải bảo đảm cơ chế hậu kiểm, công khai, kiểm toán và trách nhiệm giải trình tương ứng với thẩm quyền được giao.
Một yêu cầu khác được UBTVQH nhấn mạnh là làm rõ trách nhiệm người đứng đầu đối với việc chậm ban hành hướng dẫn, chậm giao, phân bổ, giải ngân hoặc không hoàn thành mục tiêu. Tiếp thu nội dung này, Chính phủ dự kiến phân định rõ trách nhiệm của cơ quan điều phối, các bộ quản lý ngành, cơ quan chủ quản và địa phương, gắn với tiến độ ban hành hướng dẫn, giao và phân bổ vốn, giải ngân, cập nhật dữ liệu và kết quả hoàn thành mục tiêu.
Đối với vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, UBTVQH yêu cầu quy định nguyên tắc ưu tiên ở mức cao nhất và tiếp tục kế thừa những cơ chế đặc thù đã phát huy hiệu quả.
Bộ Tài chính cho biết, nguyên tắc này được cụ thể hóa bằng hệ thống tiêu chí phản ánh số xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn, quy mô dân số, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số, mức thiếu hụt dịch vụ và các tiêu chí chuyên ngành. Nguồn lực thực hiện các chính sách đặc thù được định hướng không điều chuyển, làm giảm trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình.
Đối với giáo dục, y tế và văn hóa, việc phân bổ và đánh giá kết quả được tiếp tục hoàn thiện theo hướng không chỉ căn cứ số lượng công trình hoặc tiến độ giải ngân, mà gắn với điều kiện vận hành, nhân lực, trang thiết bị, khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ thực tế./.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, thông qua chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, sau khi Chính phủ tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì thẩm tra, các đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan.
Vân Hà
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
15 phút trước
1 phút trước
5 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
15 phút trước