Điểm nghẽn vùng nguyên liệu cản đà tăng trưởng xuất khẩu gỗ
Vùng nguyên liệu: 'Nút thắt' cần tháo gỡ của ngành gỗ
Ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ấn tượng, với kim ngạch năm 2025 đạt trên 17 tỷ USD. Đằng sau kết quả này là nhu cầu ngày càng lớn về nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, trong đó gỗ rừng trồng trong nước giữ vai trò ngày càng quan trọng.

Cạnh tranh về nguyên liệu rừng trồng còn diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng nhóm theo sản phẩm đầu ra. Đây là một trong những điểm nghẽn của ngành gỗ.
Hiện nguồn nguyên liệu của ngành đến từ hai kênh chính gồm gỗ nhập khẩu từ các quốc gia có nền quản trị rừng tốt như Mỹ và châu Âu, cùng nguồn gỗ nội địa từ rừng trồng và cao su. Tuy nhiên, khi xuất khẩu gỗ tăng trưởng nhanh, áp lực về nguồn cung nguyên liệu cũng gia tăng.
Mỗi phân khúc của ngành sử dụng loại nguyên liệu khác nhau. Doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất cần gỗ có đường kính lớn; doanh nghiệp sản xuất gỗ dán sử dụng gỗ nhỏ hơn; trong khi ngành dăm gỗ và viên nén chủ yếu sử dụng gỗ nhỏ, cành ngọn và các phụ phẩm như mùn cưa, vỏ cây.
Điều này khiến nhiều nhóm doanh nghiệp cùng cạnh tranh nguồn gỗ keo, bạch đàn trong nước. Tại khu vực miền Bắc, nguồn nguyên liệu càng trở nên khan hiếm sau khi nhiều diện tích rừng trồng bị thiệt hại bởi bão, đẩy giá gỗ nguyên liệu tăng cao. Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, không ít doanh nghiệp sản xuất ván bóc và đồ gỗ không đủ khả năng cạnh tranh thu mua nguyên liệu với các doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ.
Cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các nhóm sản phẩm mà còn ngay trong cùng một ngành hàng. Những doanh nghiệp có tiềm lực, xây dựng được vùng nguyên liệu thông qua liên kết với hộ trồng rừng có lợi thế lớn hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Bên cạnh đó, việc nhiều doanh nghiệp cùng đầu tư vào một lĩnh vực, như viên nén gỗ, trên cùng địa bàn cũng dẫn tới mất cân đối giữa công suất chế biến và khả năng cung ứng nguyên liệu, tạo ra sự cạnh tranh thiếu bền vững.
Một hạn chế khác là Việt Nam vẫn thiếu nền tảng khoa học để quy hoạch phát triển các loài cây phù hợp với từng vùng sinh thái. Trong khi các loại cây như keo, tràm, bạch đàn, mỡ hay bồ đề có đặc tính sinh trưởng khác nhau, việc đánh giá tiềm năng từng loài theo điều kiện thổ nhưỡng vẫn còn thiếu, ảnh hưởng đến định hướng phát triển vùng nguyên liệu và bố trí năng lực chế biến.
Tại Webinar “Nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ thông qua việc đẩy mạnh liên kết giữa khâu chế biến và vùng nguyên liệu bền vững và thị trường carbon: Từ góc nhìn vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long” do Mạng lưới EUDR Lâm nghiệp, Mạng lưới Nghiên cứu chính sách nông – lâm nghiệp, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) và tổ chức Forest Trends tổ chức chiều 24/7, ông Phùng Quốc Mẫn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HAWA cho biết, phát triển vùng nguyên liệu bền vững gắn với chế biến sâu đang trở thành vấn đề được toàn ngành đặc biệt quan tâm.
Theo ông Phùng Quốc Mẫn, thành công trong xuất khẩu chưa đồng nghĩa với phát triển bền vững. Mặc dù Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và nội thất, sự thiếu liên kết giữa vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến vẫn là "điểm nghẽn" cần sớm khắc phục. Do đó, việc xây dựng chuỗi liên kết giữa người trồng rừng, doanh nghiệp và chính quyền địa phương cần được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.
Mở dư địa tăng trưởng từ liên kết chuỗi và thị trường carbon
Theo TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc Chương trình Chính sách Lâm nghiệp, thương mại và tài chính, Tổ chức Forest Trends, phát triển vùng nguyên liệu không phải là bài toán riêng của Đông Nam Bộ hay Đồng bằng sông Cửu Long mà cần được nhìn nhận trên phạm vi toàn quốc. Hiện Việt Nam có khoảng 10,1 triệu ha rừng tự nhiên, 4,9 triệu ha rừng trồng, trong đó khoảng 4,1 triệu ha là rừng sản xuất - nguồn cung nguyên liệu chủ yếu cho ngành chế biến gỗ. Đến nay, cả nước có khoảng 880.000 ha rừng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo hai hệ thống FSC và PEFC.
Theo TS. Tô Xuân Phúc, tổng nhu cầu nguyên liệu đầu vào của các ngành đồ gỗ, ván nhân tạo, viên nén và dăm gỗ hiện lên tới khoảng 59 triệu m³ mỗi năm, cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của rừng trồng đối với chuỗi giá trị ngành gỗ. Tuy nhiên, sau hơn 20 năm thúc đẩy phát triển rừng gỗ lớn, Việt Nam vẫn chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Nguyên nhân đến từ nhu cầu thị trường chưa đủ lớn, hiệu quả kinh tế chưa tạo động lực cho người trồng rừng, trong khi thiếu doanh nghiệp chế biến sâu tại vùng nguyên liệu khiến người dân vẫn ưu tiên khai thác gỗ nhỏ.
Một bất cập khác là quy hoạch phát triển các cơ sở chế biến tại nhiều địa phương chưa gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, dẫn đến mất cân đối cung - cầu và cạnh tranh thu mua giữa các doanh nghiệp. Do đó, cần xây dựng chiến lược phát triển vùng nguyên liệu theo từng vùng sinh thái, quy hoạch rõ loại cây trồng phù hợp với từng loại hình chế biến, đồng thời tăng cường liên kết giữa các hiệp hội, doanh nghiệp và địa phương.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Thông, Tổng giám đốc Công ty Gỗ Hoàng Thông cũng cho rằng, thúc đẩy phát triển bền vững nguồn nguyên liệu gỗ lớn để sản xuất đồ gỗ cần được nhìn nhận theo hai giai đoạn: ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, điều quan trọng nhất là xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về rừng trồng, gồm diện tích, cơ cấu cây trồng, tuổi rừng và khả năng cung ứng nguyên liệu. Trên cơ sở đó, có thể phân loại vùng nguyên liệu phục vụ từng ngành như dăm gỗ, viên nén, MDF, ván bóc hay gỗ lớn để các doanh nghiệp và hiệp hội chủ động liên kết. Về dài hạn, cần quy hoạch phát triển vùng rừng trồng trên phạm vi cả nước, xác định rõ quy mô, cơ cấu và định hướng sử dụng cho từng vùng. "Chỉ khi có quy hoạch tổng thể và nguồn cung ổn định, doanh nghiệp mới có cơ sở đầu tư chế biến sâu, hình thành chuỗi giá trị bền vững cho ngành gỗ", ông Nguyễn Hữu Thông nhấn mạnh.
Theo Cục Hải quan (Bộ Tài chính), 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 46,5%, đạt 1,3 tỷ USD, đưa thị trường này vượt Nhật Bản trở thành điểm đến lớn thứ hai của gỗ Việt Nam. Dự báo, xuất khẩu sẽ tiếp tục tăng trưởng trong nửa cuối năm nhờ nhu cầu phục hồi và lợi thế từ các FTA, song doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với bài toán vùng nguyên liệu, áp lực từ các rào cản thương mại, tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và biến động chính sách thương mại toàn cầu.
Các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon được đánh giá sẽ mở ra cơ hội mới cho ngành gỗ. Việc kéo dài chu kỳ khai thác, phát triển rừng gỗ lớn, áp dụng các biện pháp lâm sinh theo hướng giảm phát thải không chỉ giúp nâng cao chất lượng nguyên liệu phục vụ chế biến sâu mà còn tạo thêm nguồn thu từ tín chỉ carbon.
Đầu tháng 7 vừa qua, HAWA đã khảo sát vùng nguyên liệu tại Cần Thơ và Cà Mau, đồng thời dự kiến tiếp tục làm việc với Tây Ninh và An Giang nhằm xây dựng mô hình liên kết giữa vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến. Theo các chuyên gia, nếu mô hình này thành công, đây sẽ là tiền đề để hình thành chuỗi cung ứng gỗ bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam và từng bước nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Nguyễn Hạnh
1 giờ trước
11 giờ trước
16 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
3 ngày trước
1 giờ trước
1 giờ trước
4 phút trước
59 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước