Nguồn nguyên liệu bền vững: Đòn bẩy nâng tầm giá trị ngành gỗ

Quang cảnh Diễn đàn “Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu”, do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức, chiều 23/7. Ảnh: T.Thiện
Nút thắt nằm ở chất lượng nguồn nguyên liệu
Trong những năm qua, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế. Từ vị thế chủ yếu gia công với quy mô nhỏ, Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á và dẫn đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, với kim ngạch xuất khẩu năm 2025 vượt 17 tỷ USD và sản phẩm hiện diện tại hơn 140 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Đó là nền tảng để ngành gỗ hướng tới mục tiêu đạt 25 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030. Tuy nhiên, theo các chuyên gia tại Diễn đàn “Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu”, nếu giai đoạn trước tăng trưởng được tạo nên bởi lợi thế về quy mô, lao động và chi phí thì giai đoạn tới, động lực phát triển sẽ phụ thuộc vào chất lượng tăng trưởng, khả năng đổi mới công nghệ và đặc biệt là chất lượng nguồn nguyên liệu.
Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - cho biết, giai đoạn 2021-2025, ngành lâm nghiệp đã cung cấp khoảng 78% nhu cầu nguyên liệu cho chế biến trong nước; gần 4,9 triệu héc-ta rừng trồng trở thành nền tảng quan trọng giúp Việt Nam từng bước chủ động nguồn nguyên liệu và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Tuy nhiên, những kết quả này mới phản ánh quy mô phát triển. Điều quan trọng hơn là ngành lâm nghiệp đang phải chuyển từ khai thác tài nguyên sang phát triển theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon.
Sự chuyển dịch này không chỉ xuất phát từ yêu cầu nội tại của nền kinh tế mà còn đến từ những thay đổi rất nhanh của thị trường quốc tế.
Theo ông Diện, nếu trước đây khách hàng quan tâm chủ yếu đến giá cả và chất lượng sản phẩm thì nay những câu hỏi được đặt ra lại là gỗ có hợp pháp hay không, có truy xuất được đến từng lô rừng hay không, có gây mất rừng hay không, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững hay không và phát thải carbon ở mức nào. Những yêu cầu từ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cùng các quy định mới của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc... đang tạo ra một mặt bằng tiêu chuẩn hoàn toàn mới, trong đó “hộ chiếu xanh” trở thành điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Diêm Thị Luyến - Quản lý phát triển kinh doanh Công ty CP TEKCOM - cũng nhận định, thời kỳ cạnh tranh bằng lợi thế sản xuất giá rẻ đã qua. Thay vì chỉ quan tâm đến giá thành, khách hàng ngày càng chú trọng khả năng truy xuất nguồn gốc, mức độ giảm phát thải và các tiêu chí phát triển bền vững. Điều này khiến công nghệ, quản trị và chất lượng nguồn nguyên liệu trở thành lợi thế cạnh tranh mới của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nghịch lý đang đặt ra là trong khi Việt Nam có diện tích rừng trồng lớn và cơ bản chủ động được nguồn sinh khối thì các doanh nghiệp chế biến sâu vẫn thiếu nguyên liệu đạt chuẩn.
Theo Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) Ngô Sỹ Hoài, nút thắt của ngành hiện nay không đơn thuần là thiếu gỗ về số lượng mà là thiếu nguồn cung gỗ lớn, chất lượng cao, ổn định, hợp pháp và phù hợp cho chế biến sâu. Theo tính toán của VIFOREST, năm 2025, tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho 4 nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực khoảng 59,5 triệu m³, trong đó dăm gỗ và viên nén chiếm tới hơn 78%, còn nguyên liệu dành cho đồ gỗ và ván công nghiệp chỉ chiếm khoảng 22%. Điều đó cho thấy ngành gỗ không thiếu sinh khối, nhưng đang thiếu loại nguyên liệu có giá trị cao.
Ông Nguyễn Thế Mai - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm (Tập đoàn TH) - cũng cho biết, phần lớn diện tích rừng trồng hiện nay là gỗ nhỏ, chu kỳ khai thác ngắn, chủ yếu phục vụ xuất khẩu dăm gỗ, trong khi các doanh nghiệp chế biến sâu cần nguồn gỗ lớn, ổn định để sản xuất đồ nội thất và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Sự thiếu hụt này buộc nhiều doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu với chi phí cao, làm giảm sức cạnh tranh.
Đồng quan điểm, ông Phạm Thành Long - Giám đốc thu mua nguyên liệu Công ty TNHH Triệu Thái Sơn - cho rằng, doanh nghiệp hiện không thiếu đơn hàng hay năng lực sản xuất mà thiếu nguồn nguyên liệu hợp pháp, đủ tuổi và ổn định. Tình trạng khai thác keo non cùng sự phát triển nhanh của các cơ sở băm dăm, điểm thu mua tự phát đang khiến thị trường nguyên liệu mất cân đối, trong khi các doanh nghiệp đầu tư bài bản vào chế biến sâu lại gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn cung.

Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: T.Thiện
Đồng bộ giải pháp để phát triển nguồn nguyên liệu gỗ bền vững
Từ thực tế trên, theo các chuyên gia, muốn hình thành nguồn nguyên liệu bền vững phục vụ chế biến sâu, cần một cuộc chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, cơ chế chính sách đến mô hình liên kết giữa người trồng rừng, doanh nghiệp và Nhà nước.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, một trong những thay đổi quan trọng nhất là chuyển từ tư duy “trồng cây rồi khai thác” sang tư duy “quản lý rừng”. Điều này đồng nghĩa với việc rừng không còn được xem là cây trồng ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh mà trở thành một tài sản dài hạn cần được quản lý xuyên suốt từ khâu lựa chọn giống, mật độ trồng, tỉa thưa, phòng trừ sâu bệnh đến quản lý carbon và khai thác theo mục tiêu chất lượng.
Khi đó, người trồng rừng không chỉ bán sinh khối theo tấn mà có thể bán gỗ theo đường kính, chất lượng, chứng chỉ quản lý rừng và giá trị sử dụng. Thành công của ngành gỗ trong tương lai cũng sẽ không còn được đo bằng sản lượng khai thác mà bằng giá trị tạo ra trên mỗi héc-ta rừng, mỗi mét khối gỗ, tỷ lệ chế biến sâu, tỷ lệ nguyên liệu có chứng chỉ và thu nhập của người trồng rừng.
Tuy nhiên, để người dân sẵn sàng chuyển sang phát triển rừng gỗ lớn thì lợi ích kinh tế phải đủ sức thuyết phục.
Theo ông Hoài, điều này đòi hỏi phải đồng thời hình thành tín dụng xanh có thời hạn phù hợp với chu kỳ rừng từ 7 - 15 năm; phát triển bảo hiểm rừng đối với các rủi ro thiên tai, cháy rừng và sâu bệnh; đồng thời hỗ trợ các mô hình “lấy ngắn nuôi dài”. Quan trọng hơn nữa là thị trường phải trả mức giá đủ hấp dẫn cho gỗ lớn thông qua cơ chế công khai tiêu chuẩn thu mua, bảng giá theo chất lượng, đường kính và chứng chỉ rừng, đi cùng các hợp đồng bao tiêu dài hạn giữa doanh nghiệp và người trồng rừng.
Ở góc độ nghiên cứu, PGS,TS. Lý Tuấn Trường - Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất (Trường Đại học Lâm nghiệp) - cho rằng, vấn đề hiện nay không chỉ là thiếu sự liên kết mà còn là cách tiếp cận đối với toàn bộ chuỗi cung ứng nguyên liệu. Theo đó, thay vì coi đây là chuỗi giá trị gồm các mắt xích rời rạc, đã đến lúc cần nhìn nhận như một “hệ sinh thái” cùng kiến tạo giá trị.
Đặc biệt, theo ông Trường, việc minh bạch hóa dữ liệu sẽ tạo nền tảng cho sự liên kết bền vững. Khi doanh nghiệp nắm được thông tin về vùng nguyên liệu, người dân biết được diễn biến của thị trường, còn cơ quan quản lý có đầy đủ dữ liệu để quy hoạch và hoạch định chính sách, các quyết định đầu tư sẽ ổn định và dài hạn hơn. Khi đó, mối liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người trồng rừng sẽ không chỉ dừng ở những thỏa thuận hợp tác mà trở thành sự kết nối hữu cơ trong một hệ sinh thái phát triển bền vững.
Song song với việc tổ chức lại vùng nguyên liệu, đổi mới công nghệ cũng được xem là điều kiện quan trọng để nâng cấp vị thế của ngành gỗ Việt Nam.
Theo TS. Nguyễn Đức Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng, ngành gỗ đang phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ là nâng cao năng lực chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Trong bối cảnh khoảng 46% kim ngạch xuất khẩu vẫn thuộc khu vực doanh nghiệp FDI, việc doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ sẽ tạo ra lợi thế lớn nhờ tỷ lệ nội địa hóa của ngành đang ở mức cao.
Ông Thành cho rằng đổi mới công nghệ không đơn thuần là đầu tư máy móc mà phải được triển khai trên nhiều trụ cột gồm: hiện đại hóa thiết bị sản xuất; số hóa và quản trị nhà máy thông minh; đồng thời đẩy mạnh thiết kế, mô phỏng sản phẩm, tối ưu vật liệu và sản xuất xanh... Đây chính là nền tảng để doanh nghiệp chủ động đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và nâng cao giá trị gia tăng thay vì tiếp tục phụ thuộc vào gia công./.
TRẦN THIỆN
38 phút trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
17 giờ trước
18 giờ trước
18 giờ trước
18 giờ trước
18 giờ trước
19 giờ trước
19 giờ trước
3 ngày trước
9 ngày trước
2 giờ trước
38 phút trước
1 phút trước
8 phút trước
12 phút trước
14 phút trước
17 phút trước