🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Cần cơ chế chính sách đồng bộ, nhất quán để khơi thông đầu tư các dự án điện

1 giờ trước

Ngày 23/10, tại Hà Nội, Tạp chí điện tử An ninh mạng Việt Nam phối hợp với Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS), đơn vị thành viên của PETROVIETNAM, tổ chức Hội thảo “An ninh năng lượng cho chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”. Hội thảo tập trung trao đổi về các nguy cơ an ninh mạng đối với hạ tầng năng lượng trọng yếu, yêu cầu bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành và tăng cường năng lực ứng phó sự cố trong quá trình chuyển đổi số.

Bên cạnh những vấn đề về an ninh mạng, các tham luận tại hội thảo cũng đặt ra yêu cầu nhìn nhận an ninh năng lượng từ góc độ rộng hơn, trong đó có khả năng bảo đảm nguồn cung, tiến độ phát triển các dự án điện và tính bền vững của hệ thống năng lượng. Đây là những yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng, quá trình chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ và thị trường năng lượng thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động.

Theo Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, quá trình điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục thảo luận, đặc biệt là khả năng triển khai các nguồn điện mới, cơ chế giá điện và bảo đảm cân đối cung - cầu. Quy hoạch xác định định hướng phát triển là cơ sở quan trọng, nhưng để các mục tiêu trở thành công suất nguồn điện thực tế, cần có cơ chế thực hiện rõ ràng và đủ sức hấp dẫn dòng vốn đầu tư.

TS Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý để xử lý đồng bộ những vấn đề liên quan đến giá điện, hợp đồng mua bán điện, huy động công suất và cân đối cung – cầu.

Thực tế cho thấy, không ít dự án điện đã được đưa vào quy hoạch, giao cho nhà đầu tư hoặc hình thành các thỏa thuận hợp tác, song tiến độ triển khai vẫn chưa đạt kỳ vọng. Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, một trong những nguyên nhân cần quan tâm là bài toán hiệu quả đầu tư và giá điện đầu ra. Khi chi phí đầu vào, giá nhiên liệu và suất đầu tư có xu hướng tăng, trong khi giá điện phải phù hợp với khả năng chi trả của nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân, việc cân đối lợi ích giữa các bên trở nên khó khăn hơn.

Nếu doanh thu từ bán điện không đủ bù đắp chi phí hợp lý và bảo đảm khả năng thu hồi vốn, nhà đầu tư sẽ khó đưa ra quyết định triển khai. Vì vậy, tiến độ phát triển nguồn điện không thể chỉ được xem xét trên cơ sở mục tiêu công suất trong quy hoạch, mà còn phải gắn với điều kiện tài chính, cơ chế thị trường và khả năng vận hành thực tế của từng dự án.

Cơ chế giá điện và bài toán hiệu quả đầu tư

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, các nguồn điện mới như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và điện khí LNG đều cần cơ chế phù hợp để thu hút đầu tư. Với điện gió ngoài khơi, dù định hướng phát triển đã được đặt ra, nhiều nội dung liên quan đến khảo sát, đánh giá, lựa chọn nhà đầu tư và tổ chức triển khai vẫn cần được cụ thể hóa. Một số dự án hợp tác quốc tế quy mô lớn chưa đạt tiến triển như kỳ vọng sau nhiều năm nghiên cứu, đàm phán, cho thấy quyết tâm đầu tư là chưa đủ nếu thiếu khuôn khổ chính sách rõ ràng và ổn định.

Đặc điểm của các dự án năng lượng là thời gian chuẩn bị và đầu tư thường kéo dài, nhu cầu vốn lớn, trong khi hiệu quả tài chính phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chi phí thiết bị, giá nhiên liệu, khả năng huy động công suất và doanh thu bán điện. Với các dự án điện khí LNG, nhà đầu tư còn phải tính toán sự biến động của giá nhiên liệu nhập khẩu và khả năng tiêu thụ điện trong suốt vòng đời dự án. Những bất định về cơ chế giá và hợp đồng mua bán điện vì thế có thể tác động trực tiếp đến phương án tài chính, khả năng thu xếp vốn và quyết định đầu tư.

Điện khí LNG cần cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện phù hợp để bảo đảm hiệu quả đầu tư, khả năng thu hồi vốn và tạo động lực triển khai các dự án nguồn điện mới.

Từ thực tế này, TS Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý để xử lý đồng bộ những vấn đề liên quan đến giá điện, hợp đồng mua bán điện, huy động công suất và cân đối cung - cầu. Các cơ chế không nên chỉ giải quyết từng vướng mắc riêng lẻ, mà cần tạo thành một khuôn khổ đủ nhất quán để nhà đầu tư có thể đánh giá rủi ro, dự kiến doanh thu và xây dựng phương án thu hồi vốn.

Bài toán đặt ra là hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư, đơn vị mua điện, doanh nghiệp sử dụng điện và người dân. Giá điện cần phản ánh các chi phí hợp lý của hệ thống, đồng thời phải tính đến sức chịu đựng của nền kinh tế và mục tiêu duy trì năng lực cạnh tranh. Nếu cơ chế giá không tạo được sự cân bằng này, việc huy động nguồn lực đầu tư cho các dự án điện mới sẽ gặp khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hiện thực hóa quy hoạch.

Việc hoàn thiện cơ chế cũng cần đi cùng đánh giá sát thực tế triển khai của từng dự án. Những công trình đang xây dựng hoặc còn vướng mắc về vốn, công nghệ, thủ tục và cơ chế giá cần được rà soát cụ thể để xác định nguyên nhân, khả năng tháo gỡ và tiến độ khả thi. Cách tiếp cận này giúp phân biệt rõ giữa mục tiêu phát triển trên quy hoạch với năng lực thực hiện trong thực tế, qua đó nâng cao tính khả thi của kế hoạch phát triển nguồn điện.

An ninh năng lượng cần gắn với khả năng chống chịu của hệ thống

Những vấn đề về cơ chế đầu tư càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam vừa phải đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng, vừa thực hiện mục tiêu chuyển dịch năng lượng và hướng tới phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Nếu các nguồn điện mới không được triển khai đúng tiến độ, áp lực bảo đảm cung ứng có thể gia tăng, nhất là trong những giai đoạn nhu cầu cao hoặc khi nguồn nhiên liệu và điều kiện vận hành gặp bất lợi.

Trong tham luận “Năng lượng trong giai đoạn phát triển mới của kinh tế Việt Nam”, TS Nguyễn Huy Hoạch, Thường trực Hội đồng Khoa học và Biên tập của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA), nhấn mạnh năng lượng không chỉ là đầu vào của sản xuất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Hệ thống năng lượng cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: đủ nguồn cung, vận hành ổn định và có chi phí hợp lý.

TS Nguyễn Huy Hoạch cho rằng cần chuyển từ tư duy chỉ bảo đảm đủ nguồn cung sang xây dựng hệ thống năng lượng có khả năng chống chịu và phục hồi.

Theo TS Nguyễn Huy Hoạch, an ninh năng lượng hiện không chỉ chịu tác động từ những rủi ro truyền thống mà còn đối mặt với biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, biến động địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và các nguy cơ liên quan đến công nghệ, dữ liệu. Hạn hán có thể làm giảm khả năng phát điện của thủy điện, trong khi nắng nóng kéo dài đẩy nhu cầu sử dụng điện lên cao. Xung đột địa chính trị hoặc gián đoạn vận tải quốc tế cũng có thể làm tăng chi phí nhiên liệu, hạn chế khả năng tiếp cận nguồn hàng nhập khẩu.

Quá trình chuyển dịch năng lượng còn đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ giữa các nguồn điện và hạ tầng hỗ trợ. Điện gió, điện mặt trời có tiềm năng lớn nhưng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, do đó cần kết hợp với nguồn điện linh hoạt, hệ thống truyền tải và giải pháp lưu trữ phù hợp. Nếu các hạng mục này không được triển khai đồng bộ, khả năng điều tiết hệ thống và bảo đảm cung ứng ổn định sẽ chịu thêm áp lực.

Đáng chú ý, quá trình số hóa khiến hệ thống năng lượng ngày càng phụ thuộc vào các nền tảng điều khiển, điều độ, phần mềm và dữ liệu vận hành. Sự cố hoặc tấn công mạng nhằm vào những hệ thống này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các công trình năng lượng trọng yếu. Vì vậy, bảo đảm an ninh năng lượng cần gắn với bảo vệ hạ tầng số, kiểm soát quyền truy cập, quản lý dữ liệu và xây dựng phương án ứng phó, khôi phục hoạt động khi xảy ra sự cố.

Từ góc độ chính sách, TS Nguyễn Huy Hoạch cho rằng cần chuyển từ tư duy chỉ bảo đảm đủ nguồn cung sang xây dựng hệ thống năng lượng có khả năng chống chịu và phục hồi. Điều này đòi hỏi đa dạng hóa nguồn nhiên liệu, đối tác và tuyến vận chuyển; phát triển đồng bộ các nguồn điện, hạ tầng truyền tải và lưu trữ; đồng thời đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả để giảm áp lực lên hệ thống.

Hai góc nhìn từ TS Nguyễn Hùng Dũng và TS Nguyễn Huy Hoạch cho thấy an ninh năng lượng không thể chỉ được bảo đảm bằng việc xác định mục tiêu công suất hay bổ sung nguồn điện. Khả năng huy động vốn, cơ chế đầu tư, tính ổn định của chính sách và năng lực ứng phó trước các rủi ro cũng là những điều kiện quan trọng. Trong đó, hoàn thiện cơ chế giá điện và tháo gỡ vướng mắc cho các dự án cần được xem là một phần của bài toán an ninh năng lượng dài hạn, nhằm tạo điều kiện đưa các mục tiêu quy hoạch vào thực tiễn, đồng thời xây dựng hệ thống năng lượng an toàn, linh hoạt và bền vững hơn.

Đình Khương

TIN LIÊN QUAN












































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ