Hoàn thiện thể chế khơi thông nguồn lực cho ngành dầu khí - năng lượng

Toàn cảnh Diễn đàn Dầu khí-Năng lượng thường niên năm 2026. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng, phát triển xanh và giảm phát thải trở thành xu thế tất yếu, việc tháo gỡ các rào cản về cơ chế, chính sách sẽ tạo nền tảng để ngành dầu khí-năng lượng phát huy vai trò bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam phát biểu khai mạc Diễn đàn. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
*Nhiều điểm nghẽn với ngành dầu khí-năng lượng
Chiều 30/6, Hội Dầu khí Việt Nam phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) tổ chức Diễn đàn Dầu khí-Năng lượng thường niên năm 2026.Phát biểu khai mạc diễn đàn, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho biết, trong bối cảnh địa chính trị biến động khó lường như hiện nay, an ninh năng lượng quốc gia không còn được hiểu đơn giản là có đủ nguồn cung mà Việt Nam cần một nền năng lượng an toàn hơn, linh hoạt, cạnh tranh, xanh và tự chủ hơn.
Thực tế cho thấy các điều kiện thuận lợi của ngành dầu khí không còn như trước khi nhiều mỏ chủ lực đã qua thời kỳ khai thác tốt nhất; việc gia tăng trữ lượng ngày càng khó hơn; các dự án mới thường xa, sâu hơn, phức tạp, rủi ro hơn. Trong khi đó, yêu cầu về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn môi trường và năng lực quản trị ngày càng cao, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập nhấn mạnh.
Theo Tiến sĩ Trịnh Quốc Tuy, chuyên viên cao cấp Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết với hệ số đàn hồi điện/GDP khoảng 1,25- 1,5 lần trong khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030 của Việt Nam ở mức “hai con số” đang đặt ra nhu cầu điện dự kiến tăng 12–16%/năm, đòi hỏi cần bổ sung khoảng 8.000–10.000 MW nguồn điện mới mỗi năm.
Thêm vào đó, xu hướng điện hóa, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và trung tâm dữ liệu đang làm xuất hiện các phụ tải điện mới có cường độ tiêu thụ rất lớn. Trong khi đó mặc dù Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu tổng công suất nguồn điện trên 183.000 MW vào năm 2030 nhưng trên thực tế, tiến độ triển khai giai đoạn 2021- 2025 mới đạt khoảng 56,7% kế hoạch, cho thấy khoảng cách lớn giữa quy hoạch và thực thi.
Chỉ ra những thách thức với ngành dầu khí-năng lượng, ông Trần Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than, Bộ Công Thương cho biết Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng chỉ rõ thể chế, chính sách và công tác quản lý phát triển ngành năng lượng còn bất cập, nhiều chỉ tiêu của các Nghị quyết trước đó (như Nghị quyết 55-NQ/TW) vẫn khó đạt được.

Ông Trần Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than, Bộ Công Thương. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Đáng chú ý, cho đến nay pháp luật hiện hành vẫn thiếu các cơ chế ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư tham gia vào các lĩnh vực năng lượng mới như: điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amonia xanh, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS). Trong khi đó, một số quy định giữa Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Đấu thầu, Luật Biển, Luật Tài nguyên môi trường Biển và hải đảo còn chưa đồng bộ; việc sửa đổi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế carbon và các cơ chế khuyến khích đầu tư cho năng lượng sạch mới đang được bắt đầu triển khai.
Đặc biệt, chính sách giá năng lượng vẫn còn những bất cập, chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị trường và còn tình trạng bù chéo và hòa trộn giá điện giữa các nhóm khách hàng. Ngoài ra, ngành dầu khí-năng lượng còn đối mặt với một loạt các thách thức khác như: Nhu cầu về năng lượng tăng cao đối diện với nguồn tài nguyên, năng lượng sơ cấp suy giảm; áp lực chuyển dịch năng lượng và cam kết Net Zero; sự biến động của thị trường năng lượng thế giới; tính khả dụng và sự đồng bộ của hạ tầng năng lượng, năng lực tự chủ và nội địa hóa còn yếu, ông Trần Thanh Tùng chỉ rõ. Bổ sung các thách thức với ngành dầu khí-năng lượng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho biết mặc dù Việt Nam có nhu cầu đầu tư năng lượng rất lớn nhưng lại thiếu cơ chế tài chính-thị trường làm cho dự án năng lượng “có thể tài trợ được”. Bên cạnh đó, thị trường tài chính trong nước chưa có đủ công cụ dài hạn cho năng lượng. Cùng đó, cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp chưa rõ. Ngoài ra, dữ liệu thị trường chưa đủ minh bạch khiến việc triển khai dự án năng lượng lớn đối mặt với nhiều rủi ro, Tiến sĩ Ngô Trí Long chỉ rõ.

Tiến sĩ Trịnh Quốc Tuy, chuyên viên cao cấp Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
* Tạo đột phá chính sách cho ngành dầu khí-năng lượng
Tại diễn đàn, đại diện Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đã đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển ngành năng lượng theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo dài hạn, trong đó cần coi bảo đảm an ninh năng lượng là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026–2030. Bên cạnh đó, giải pháp nền tảng khác là tạo đột phá về cơ chế đầu tư đối với các dự án năng lượng chiến lược, trong đó nghiên cứu áp dụng cơ chế đặc thù theo hướng “luồng xanh” đối với các dự án nguồn điện, lưới điện, LNG và các dự án dầu khí trọng điểm; gắn trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư với tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế giá khí, giá điện, hợp đồng mua bán điện và cơ chế chia sẻ rủi ro để khơi thông các dự án quy mô lớn như Lô B - Ô Môn, Cá Voi Xanh, điện khí LNG và các dự án hạ tầng năng lượng mới là rất cần thiết. Chỉ ra các giải pháp để thúc đẩy các dự án năng lượng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long đề xuất cần xây dựng Đề án cơ chế tài chính-thị trường cho ngành dầu khí-năng lượng giai đoạn 2026–2035, trong đó đi sâu vào giá, hợp đồng, vốn, bảo lãnh, rủi ro, thị trường carbon, trái phiếu chuyển dịch và cơ chế trao quyền cho doanh nghiệp chủ lực. Cùng đó, cơ chế giá năng lượng cần cần cải cách theo nguyên tắc thị trường có điều tiết và tránh tình trạng dùng doanh nghiệp năng lượng để gánh thay chính sách an sinh, vì điều đó làm suy yếu năng lực đầu tư dài hạn. Đặc biệt, với vai trò doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ lực trong đảm bảo an ninh năng lượng và dẫn dắt quá trình chuyển dịch năng lượng, Petrovietnam cần được trao quyền mạnh hơn đi đôi với giám sát hiện đại. Ngoài ra, việc cho phép doanh nghiệp năng lượng sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro giá hàng hóa, tỷ giá và lãi suất theo quy chế chặt chẽ chính là giải pháp quan trọng để các dự án năng lượng lớn có thể triển khai hiệu quả, Tiến sĩ Ngô Trí Long khẳng định.

Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam Vũ Đào Minh phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Từ góc độ doanh nghiệp đang triển khai nhiều dự án năng lượng lớn, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam Vũ Đào Minh cho biết, ngành dầu khí-năng lượng cần cơ chế, chính sách đột phá để giải phóng nguồn lực, đẩy nhanh việc triển khai khả thi các dự án năng lượng quy mô lớn.
Cụ thể, hệ thống pháp luật về năng lượng, dầu khí, điện, công nghiệp, thương mại và chuyển dịch xanh cần được hoàn thiện đồng bộ, trong đó giai đoạn 2026 - 2030, cần ưu tiên hoàn thiện Luật Dầu khí sửa đổi và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành theo hướng tháo gỡ vướng mắc cho tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí; khuyến khích phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên, mỏ tận thu, khu vực nước sâu, xa bờ; tạo cơ chế linh hoạt trong tận thu tài nguyên, nâng cao hệ số thu hồi, chia sẻ hạ tầng sẵn có, thu dọn mỏ và tái sử dụng hạ tầng dầu khí cho năng lượng mới. Đối với năng lượng mới, cần sớm hình thành hành lang pháp lý cho hydrogen, amoniac xanh, nhiên liệu hàng không bền vững, điện gió ngoài khơi, lưu trữ năng lượng, thu hồi và lưu trữ carbon CCUS và thị trường carbon. Nhà nước cần thiết kế chính sách theo hướng “mở đường có kiểm soát”, vừa bảo đảm an toàn, môi trường, an ninh năng lượng, vừa tạo không gian thử nghiệm cho công nghệ mới.Đặc biệt, việc xây dựng cơ chế đặc thù cho các dự án và cụm dự án chiến lược quốc gia là rất cần thiết do đây là những dự án liên ngành, liên vùng, có nhiều dự án thành phần và nhiều cơ quan quản lý nên nếu áp dụng tuần tự các thủ tục riêng lẻ như các dự án thông thường, thời gian chuẩn bị có thể kéo dài, làm mất cơ hội đầu tư. Vì vậy, Petrovietnam kiến nghị nghiên cứu cơ chế “phê duyệt tổng thể một lần” cho các cụm dự án chiến lược quốc gia; áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt; thực hiện cơ chế một cửa liên thông đặc biệt; cho phép triển khai song song một số thủ tục về đầu tư, xây dựng, môi trường, đất đai, mặt biển, phòng cháy chữa cháy và đấu nối hạ tầng trên cơ sở cam kết tuân thủ của nhà đầu tư. Cùng đó, cần có cơ chế cho phép giao Petrovietnam và các đơn vị thành viên chủ lực làm chủ đầu tư hoặc đầu mối triển khai các dự án lõi liên quan trực tiếp đến an ninh năng lượng như kho cảng LNG, đường ống, hạ tầng khí, điện khí, lọc hóa dầu, điện gió ngoài khơi, cảng dịch vụ năng lượng, CCUS và các hạ tầng dùng chung. Đối với các dự án vệ tinh, cần thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp tư nhân, nhà đầu tư quốc tế, đối tác công nghệ và định chế tài chính theo mô hình hợp tác công - tư, liên doanh, liên kết, mua bán sáp nhập hoặc hợp đồng dịch vụ dài hạn.Ngoài ra, cần cho phép doanh nghiệp chủ động hơn trong sử dụng lợi nhuận sau thuế, trích lập quỹ đầu tư phát triển, huy động vốn, phát hành công cụ nợ, sử dụng tài chính xanh, tài chính hỗn hợp, hợp vốn quốc tế và mua bán sáp nhập doanh nghiệp, cũng như có cơ chế phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho Hội đồng thành viên và Ban điều hành trong quyết định đầu tư, hợp tác, mua bán tài sản, lựa chọn đối tác và quản trị danh mục đầu tư trên nguyên tắc công khai, minh bạch, hiệu quả và kiểm soát rủi ro, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam đề xuất.
Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
5 ngày trước
6 ngày trước
1 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
26 phút trước
13 phút trước
17 phút trước
4 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
9 phút trước
10 phút trước
13 phút trước
13 phút trước
16 phút trước