🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Áp dụng các biện pháp để bảo đảm thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đạt trên 60%

6 giờ trước
Ngày 11/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (Nghị quyết của Quốc hội thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án).

Toàn cảnh phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

Tăng cường thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế

Đại biểu Quốc hội Đặng Bích Ngọc (Đoàn Phú Thọ) cho rằng, về chỉ tiêu kéo giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội, Nghị quyết số 18 của Trung ương về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa phát triển quy định có đưa ra những chỉ tiêu. Cụ thể, kéo giảm bền vững tội phạm, phấn đấu hàng năm giảm 10% số vụ tội phạm về trật tự xã hội.

Từ đó, bà Ngọc đề nghị nghị quyết của Quốc hội thể chế hóa theo quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Theo đó, cần điều chỉnh dự thảo Nghị quyết thành: “Tăng cường các biện pháp phòng ngừa để kéo giảm các loại tội phạm, trong đó số vụ phạm tội về trật tự xã hội phấn đấu giảm 10% so với năm trước”.

Đại biểu Đặng Bích Ngọc phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Về chỉ tiêu số vụ án việc tạm đình chỉ, Dự thảo nghị quyết quy định phấn đấu giải quyết ít nhất 5% số vụ án, vụ việc tạm đình chỉ ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và điều tra so với năm trước. Tuy nhiên bà Ngọc đề nghị điều chỉnh thành: “Phấn đấu giảm đến 5% số vụ việc, vụ án tạm đình chỉ so với năm trước”. Không để xảy ra tạm đình chỉ, đình chỉ trái pháp luật để đảm bảo phản ánh đúng quyết tâm giảm số vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, vừa giảm bớt áp lực phải phục hồi điều tra khi căn cứ tạm đình chỉ vẫn còn do tạm đình chỉ chỉ là quyết định tố tụng được pháp luật quy định.

Liên quan đến chỉ tiêu thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, bà Ngọc cho rằng, trong giai đoạn điều tra, kết quả cần được đánh giá trên cơ sở tiền, tài sản đã được phát hiện, xác minh, truy tìm, tạm giữ, tạm phong tỏa, kê biên. Việc tịch thu, trả lại, xử lý tài sản còn phụ thuộc vào kết quả truy tố, xét xử và thi hành án. Tức là cần phân biệt rõ tỷ lệ thu hồi tài sản thực tế với tỷ lệ đảm bảo thu hồi trong giai đoạn điều tra.

Từ đó, bà Ngọc đề nghị điều chỉnh theo hướng: Cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý, áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đạt trên 60%; trong đó tại giai đoạn điều tra, tỷ lệ bảo đảm thu hồi tiền, tài sản đạt từ 65% trở lên trên tỷ lệ 60% nêu trên.

Đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Xuân Kỳ (Đoàn Hà Nội) cũng cùng quan điểm về chỉ tiêu thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế. Theo ông Kỳ cần điều chỉnh theo hướng: “Cơ quan điều tra, Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý, áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đạt trên 60%; trong đó tại giai đoạn điều tra, tỷ lệ bảo đảm thu hồi tiền, tài sản đạt từ 65% trở lên trên tỷ lệ 60% nêu trên”.

Nhiều kiến nghị xử lý đã được ban hành vẫn chưa xử lý trường hợp nào: Điểm nghẽn thực sự ở đâu?

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng), kết quả tổng kết thực hiện Nghị quyết số 96, tỷ lệ thi hành án hành chính trong 6 năm từ 2020 đến 2025 lần lượt là 43,73%; 48,19%; 43,24%; 42,32%; 45,41% và 41,37%. Như vậy, tỷ lệ này không những còn thấp mà chưa cho thấy xu hướng cải thiện rõ rệt. Đáng lưu ý hơn, Nghị quyết số 96 đã yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND, UBND các cấp không chấp hành án hành chính, nhưng kết quả tổng kết cả 6 năm đều ghi nhận chưa xử lý trường hợp nào mặc dù đã có nhiều kiến nghị.

Dẫn chứng tại thảo luận Tổ, đã có ý kiến đề nghị Chính phủ hằng năm báo cáo Quốc hội về việc xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu không chấp hành án hành chính. Báo cáo giải trình cho rằng nội dung này đã được quy định trong Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành án hành chính và các văn bản liên quan nên không cần quy định trùng lặp trong Nghị quyết.

Đồng tình Nghị quyết không nên lặp lại những quy định pháp luật đã có. Nhưng theo bà Nga, chính kết quả 6 năm vừa qua lại đặt ra một câu hỏi khác: nếu pháp luật đã quy định, Nghị quyết số 96 cũng đã yêu cầu, nhiều kiến nghị xử lý đã được ban hành mà vẫn chưa xử lý trường hợp nào, thì điểm nghẽn thực sự nằm ở đâu? Đây không còn chủ yếu là vấn đề thiếu quy định, mà là vấn đề thực thi trách nhiệm.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Cũng theo bà Nga, án hành chính có tính chất rất đặc thù. Khi một bản án đã có hiệu lực pháp luật mà bên phải thi hành là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước lại chậm hoặc không chấp hành, thì không chỉ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân chưa được bảo đảm, mà hiệu lực của phán quyết tư pháp và tính gương mẫu tuân thủ pháp luật của cơ quan công quyền cũng bị ảnh hưởng.

Vì vậy, bà Nga đề nghị không nhất thiết phải bổ sung thêm một quy định trùng với luật, nhưng trong cơ chế báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết cần làm rõ số bản án hành chính chậm, chưa được thi hành; nguyên nhân; số trường hợp có dấu hiệu phải xem xét trách nhiệm; số trường hợp đã xem xét và kết quả xử lý. Quốc hội cần nhìn thấy không chỉ tỷ lệ thi hành án tăng hay giảm, mà cả việc trách nhiệm đã được xác định và thực hiện đến đâu.

“Nghị quyết lần này không chỉ đặt ra những con số để các cơ quan phấn đấu thực hiện, mà còn xác lập chuẩn mực để Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật. Vì vậy, bên cạnh tính khả thi, Nghị quyết cần bảo đảm hai yêu cầu: trách nhiệm đã quy định thì phải được thực thi; chuẩn mực đã xác lập thì phải có giới hạn rõ ràng khi điều chỉnh. Có như vậy, các chỉ tiêu của Nghị quyết mới thực sự trở thành thước đo của hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp và của kỷ cương, thượng tôn pháp luật”, bà Nga nói. 

Anh Vũ - Việt Thắng - Quang Vinh

TIN LIÊN QUAN


































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ