🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Tháo gỡ rào cản sinh con trong bối cảnh mức sinh thấp

4 giờ trước
Mức sinh thấp, kết hôn và sinh con muộn đang đặt ra không ít thách thức đối với cơ cấu dân số. Trong bối cảnh đó, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ điều trị hiếm muộn và ứng dụng tiến bộ y học sinh sản cho người dân là một trong những hướng cần được quan tâm.

Cần xem hiếm muộn là vấn đề y tế công cộng hàng đầu

Mức sinh thấp đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với cơ cấu dân số. Tại Hà Nội, tổng tỷ suất sinh đã giảm xuống 1,88 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế 2,1 con. Trong khi đó, xu hướng kết hôn muộn ngày càng rõ nét. Theo Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024 của Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính), tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam giới Hà Nội là 29,5 tuổi, nữ giới là 26,2 tuổi.

Kết hôn muộn không đồng nghĩa với việc các cặp đôi không có nhu cầu sinh con. Áp lực công việc, chi phí nhà ở, chăm sóc con cái và yêu cầu ổn định kinh tế trước khi lập gia đình khiến nhiều người trì hoãn việc sinh con. Khi thời điểm lập gia đình và sinh con được đẩy lùi, các yếu tố sinh học liên quan khả năng sinh sản cũng là vấn đề cần được quan tâm. Một bộ phận các cặp đôi phải đối diện với tình trạng hiếm muộn và cần đến sự hỗ trợ của y học.

GS.TS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam chia sẻ kiến thức trong điều trị tại Hội nghị Sản phụ khoa quốc tế 2026. Ảnh: Thanh Hải

Tại Việt Nam, một nghiên cứu cấp Nhà nước của Bộ Y tế công bố vào đầu năm 2026 từng ghi nhận khoảng 7,7% các cặp vợ chồng gặp vô sinh cần can thiệp. Chia sẻ tại Hội nghị Sản phụ khoa Quốc tế diễn ra ngày 28-8, GS.TS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cho rằng: Tỷ lệ này hiện có thể đã cao hơn, trong bối cảnh tuổi kết hôn ngày càng tăng và chi phí điều trị vẫn là rào cản đối với nhiều gia đình. Một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hiện có thể tốn khoảng 70-100 triệu đồng, tùy nguyên nhân và mức độ phức tạp của từng trường hợp.

Như vậy, trong bối cảnh mức sinh thấp, câu chuyện hiếm muộn cần được nhìn rộng hơn việc điều trị một bệnh lý của từng cá nhân. Tháng 11-2025, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) lần đầu ban hành Hướng dẫn về phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn. WHO ước tính khoảng 17,5% người trưởng thành trên thế giới từng trải qua hiếm muộn, tương đương khoảng 1 trong 6 người. Tổ chức này kêu gọi các quốc gia đưa chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong đó có phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn, vào các chiến lược y tế quốc gia, hướng tới dịch vụ an toàn, công bằng và có khả năng chi trả.

PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, thành viên ban soạn thảo hướng dẫn của WHO thông tin thêm: "Theo khuyến cáo của WHO, việc giải quyết hiếm muộn cần được đặt trong các mục tiêu rộng hơn về bình đẳng giới, bao phủ y tế toàn dân, tiếp cận dịch vụ y tế công bằng, bảo vệ tài chính cho cá nhân và các cặp đôi cũng như quyền được hưởng thành tựu khoa học. Các quốc gia nên xem hiếm muộn là vấn đề y tế công cộng hàng đầu để vận động các nhà hoạch định chính sách có đầu tư thích đáng cho vấn đề này, đưa vào chính sách y tế - điều vẫn chưa được thực hiện ở nhiều quốc gia".

Thêm cơ hội cho người bệnh nhờ kỹ thuật y khoa mới

Sự phát triển nhanh của y học sinh sản đang tạo ra thêm nhiều lựa chọn cho các cặp vợ chồng hiếm muộn. Nhiều kỹ thuật mới như “Rescue ICSI” - tiêm tinh trùng vào bào tương noãn có thể giúp cứu vãn những trường hợp thụ tinh không xảy ra sau quá trình thụ tinh trong ống nghiệm theo quy trình thông thường. Trong những trường hợp có chỉ định phù hợp, kỹ thuật này cho phép bác sĩ can thiệp ở thời điểm muộn hơn nhằm tận dụng những noãn còn khả năng thụ tinh, qua đó có thể tăng cơ hội tạo phôi trong chu kỳ điều trị.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương thăm khám cho sản phụ. Ảnh: Bệnh viện cung cấp

Cùng với đó, kỹ thuật xét nghiệm di truyền tiền làm tổ như PGT đang được ứng dụng trong hỗ trợ sinh sản nhằm phát hiện một số bất thường di truyền hoặc bất thường nhiễm sắc thể ở phôi trước khi chuyển phôi. Những công nghệ này có thể giúp bác sĩ và người bệnh có thêm thông tin để lựa chọn phương án điều trị phù hợp, nhưng không đồng nghĩa với việc có thể loại bỏ hoàn toàn mọi nguy cơ bệnh lý hoặc dị tật ở trẻ.

Một hướng phát triển khác là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong y học sinh sản. AI có thể được sử dụng để hỗ trợ phân tích dữ liệu, sàng lọc, đánh giá phôi và cá thể hóa một số bước trong quá trình điều trị. Tuy nhiên, công nghệ vẫn cần được đặt trong quy trình chuyên môn và sự đánh giá của bác sĩ, thay vì được xem như sự thay thế cho quyết định lâm sàng.

Công nghệ càng phát triển, bài toán tiếp cận càng trở nên quan trọng. Tại Việt Nam, chi phí là một trong những rào cản rõ nhất. GS.TS Nguyễn Viết Tiến cho rằng, cần từng bước nghiên cứu chính sách bảo hiểm y tế hỗ trợ người bệnh hiếm muộn. Theo ông, nếu chưa thể chi trả toàn bộ những kỹ thuật đắt tiền như IVF, có thể bắt đầu từ những khoản chi phí trong quá trình thăm khám, xét nghiệm, siêu âm và các thăm dò cần thiết, sau đó mở rộng theo từng nhóm đối tượng và khả năng của hệ thống.

Cùng với cơ chế tài chính, các chuyên gia về chính sách dân số cho rằng cần phân tầng dịch vụ điều trị hiếm muộn, nâng cao năng lực của tuyến cơ sở để người bệnh được tư vấn, khám và thực hiện những can thiệp phù hợp ngay tại địa phương trước khi chuyển lên các trung tâm chuyên sâu.

Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần của WHO: Không chỉ phát triển những kỹ thuật tiên tiến nhất mà phải xây dựng một hệ thống chăm sóc theo từng bước, bắt đầu từ những can thiệp đơn giản, có bằng chứng và chi phí hợp lý, sau đó mới chuyển sang các phương pháp phức tạp hơn khi cần thiết.

Sự phát triển của y học sinh sản đang mở thêm những cơ hội mà trước đây nhiều gia đình không có được. Nhưng để những cơ hội ấy góp phần vào mục tiêu dân số, công nghệ phải đi cùng chính sách, hệ thống y tế và khả năng chi trả của người dân. Khi đó, giải quyết hiếm muộn không chỉ giúp một cặp vợ chồng thực hiện mong muốn sinh con, mà còn trở thành một phần của chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản và phát triển dân số bền vững.

Hội nghị Sản phụ khoa Quốc tế 2026 có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học quốc tế. Ảnh: Thu Hương

Thảo Hương

TIN LIÊN QUAN































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ