🔍
Chuyên mục: Quản lý - Quy hoạch

Hoàn thiện quy định về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ công trình quan trọng

8 giờ trước
Sáng 26-10, Quốc hội làm việc tại hội trường, nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra về 5 dự án luật; thảo luận ở tổ về: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Quang cảnh phiên thảo luận tổ sáng 26-10.

Kiểm tra theo mức độ nguy cơ, tháo gỡ vướng mắc cho cơ sở hiện hữu

Thảo luận dự án Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, đại biểu Lý Thị Lan góp ý tại điểm a khoản 5 Điều 2 dự thảo Luật, sửa đổi khoản 4 Điều 18 về nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy; liên quan đến khoản 2 Điều 2 sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 11 về nội dung kiểm tra.

Đại biểu đề nghị tại điểm a khoản 5 Điều 2, chỉnh lý khoản 4 Điều 18 theo hướng: Công trình, phần công trình, hạng mục công trình, phương tiện giao thông chỉ được đưa vào khai thác, sử dụng sau khi đã hoàn thành nghiệm thu và bảo đảm các yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy theo hồ sơ thiết kế được thẩm định đối với trường hợp thuộc diện phải thẩm định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng. Chủ đầu tư, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về kết quả nghiệm thu.

ĐBQH Lý Thị Lan phát biểu thảo luận tại tổ.

Cùng với đó, đề nghị khi hoàn thiện khoản 2 Điều 2 dự thảo Luật và quy định hướng dẫn Điều 11, xác định rõ việc kiểm tra sau khi công trình đưa vào sử dụng theo mức độ nguy cơ cháy, nổ, tránh kiểm tra dàn trải, chồng chéo giữa các cơ quan. Với địa bàn miền núi rộng, giao thông khó khăn, cần ưu tiên nguồn lực cho công trình tập trung đông người, cơ sở có nguy cơ cao, trong đó có trường nội trú, cơ sở y tế. Cơ chế này phải sử dụng dữ liệu nghiệm thu, dữ liệu quản lý đã có, thống nhất với Nghị định số 105/2025/NĐ-CP, không phát sinh thêm thủ tục chấp thuận hoặc kiểm tra bắt buộc trước khi sử dụng dưới hình thức khác.

Về khoản 9 Điều 2 dự thảo hiện mới sửa đổi khoản 2 và khoản 7 Điều 55, chưa sửa khoản 5 và khoản 6. Trong khi đó, khoản 5 Điều 55 hiện hành quy định việc tiếp tục thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với những cơ sở không bảo đảm yêu cầu phòng cháy, chữa cháy đã đưa vào sử dụng trước khi Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001 có hiệu lực. Khoản 6 cho phép một nhóm cơ sở hiện hữu áp dụng các giải pháp kỹ thuật nâng cao an toàn nhưng lại loại trừ trường hợp thuộc khoản 5.

Sự loại trừ này có thể thu hẹp khả năng lựa chọn giải pháp phù hợp cho những công trình đã hoạt động từ lâu. Thực tế tại các địa phương miền núi có nhiều trường học, cơ sở y tế, công trình phục vụ cộng đồng và cơ sở sản xuất, kinh doanh có hạn chế về kết cấu, đường tiếp cận hoặc nguồn nước chữa cháy. Có trường hợp việc cải tạo toàn diện rất tốn kém, trong khi vẫn có thể áp dụng giải pháp kỹ thuật thay thế để nâng cao mức độ an toàn.

Tại Báo cáo số 1952/BC-BCA ngày 14/9/2026, Bộ Công an đã dự kiến tiếp thu theo hướng cho phép các cơ sở thuộc khoản 5 được áp dụng giải pháp kỹ thuật tại khoản 6. Đại biểu thống nhất với hướng tiếp thu này và đề nghị thể hiện trực tiếp trong dự thảo trình Quốc hội.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 9 Điều 2 nội dung sửa đổi khoản 5 và khoản 6 Điều 55: Cho phép cơ sở thuộc khoản 5 lựa chọn, áp dụng giải pháp kỹ thuật nâng cao an toàn phù hợp theo điểm b, điểm c khoản 6; đồng thời bỏ cụm từ “trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này” ở phần mở đầu khoản 6.

Việc sửa đổi phải bảo đảm kế thừa những phương án, lộ trình khắc phục đã được xác định và thực hiện hợp pháp; không yêu cầu cải tạo đồng loạt theo tiêu chuẩn mới khi có giải pháp thay thế bảo đảm an toàn, không phát sinh thủ tục hành chính và chi phí không cần thiết cho người dân, doanh nghiệp. Cơ sở không thể khắc phục để bảo đảm an toàn vẫn phải được xử lý theo quy định.

Làm rõ thẩm quyền lực lượng bảo vệ, tránh khoảng trống pháp lý khi chuyển tiếp

Thảo luận về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đại biểu Vương Thị Hương tán thành sự cần thiết ban hành Luật, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện một số quy định nhằm bảo đảm rõ thẩm quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cũng như tính khả thi khi triển khai.

ĐBQH Vương Thị Hương phát biểu thảo luận tại tổ.

Góp ý Điều 33 về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ, đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi của các nhiệm vụ “tiến hành xác minh” và “xử lý những trường hợp vi phạm”. Theo đại biểu, lực lượng bảo vệ cần được chủ động kiểm tra, ghi nhận thông tin ban đầu, ngăn chặn hành vi xâm phạm, bảo vệ hiện trường và chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, dự thảo cần xác định rõ giới hạn để tránh cách hiểu lực lượng này được thực hiện các hoạt động điều tra, cưỡng chế hoặc xử phạt khi pháp luật không giao thẩm quyền.

Đối với điểm c khoản 2 Điều 20, dự thảo quy định cá nhân, hộ gia đình “thường trú trong phạm vi bảo vệ” được tiếp tục canh tác. Đại biểu cho rằng cần phân biệt điều kiện cư trú phục vụ quản lý, kiểm soát an ninh với căn cứ pháp lý để thực hiện hoạt động sản xuất. Theo đó, người có quyền sử dụng đất, mặt nước và đang sản xuất hợp pháp nhưng cư trú ở địa bàn khác có thể không thuộc trường hợp được tiếp tục sản xuất; ngược lại, việc thường trú trong khu vực cũng không tự làm phát sinh quyền canh tác nếu không có quyền sử dụng hợp pháp. Vấn đề này cần đặc biệt lưu ý tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, nơi ở và khu vực sản xuất của người dân có thể không trùng nhau.

Đại biểu đề nghị quy định việc canh tác phải dựa trên quyền sử dụng đất, mặt nước hoặc căn cứ sản xuất hợp pháp, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn công trình. Trường hợp hoạt động sản xuất hợp pháp đã được xác lập trước nhưng phải hạn chế vì yêu cầu an ninh thì cần bảo đảm cơ chế bồi thường, hỗ trợ theo quy định. Góp ý Điều 41 về quy định chuyển tiếp, đại biểu cho rằng dự thảo chưa gắn rõ thời điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định cũ với thời điểm có hiệu lực của quyết định mới.

Một công trình không còn đáp ứng tiêu chí loại I vẫn có thể thuộc loại II hoặc loại III và tiếp tục cần được bảo vệ. Vì vậy, nếu quyết định cũ bị bãi bỏ trước khi quyết định mới có hiệu lực có thể phát sinh khoảng trống pháp lý trong quá trình chuyển đổi. Đại biểu đề nghị quy định quyết định theo Pháp lệnh năm 2007 tiếp tục có hiệu lực cho đến khi quyết định thay thế hoặc quyết định đưa công trình ra khỏi Danh mục theo Luật mới có hiệu lực; đồng thời xác định rõ thời hạn hoàn thành rà soát, phân loại lại và trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình chuyển tiếp.

Tin, ảnh: PV

TIN LIÊN QUAN











































Home Icon VỀ TRANG CHỦ