Đại biểu Quốc hội: Địa phương cũng mong có chính sách đặc thù để đẩy nhanh dự án
Sáng ngày 12/8, thảo luận tại hội trường về chủ trương dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội và việc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, nhiều đại biểu Quốc hội đề xuất mở rộng áp dụng các chính sách đặc thù cho từng dự án sang chính sách chung cho các dự án trọng điểm.

Đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn Đắk Lắk). Ảnh: Media Quốc hội
Đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn Đắk Lắk) đề xuất Quốc hội xem xét ban hành một nghị quyết về cơ chế chính sách đặc thù phát triển hạ tầng giao thông trọng điểm giai đoạn 2026-2030. Trong đó cho phép áp dụng 10 nhóm chính sách như với dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, dự án có tính chất liên kết vùng, dự án quan trọng quốc gia đáp ứng các tiêu chí điều kiện được quy định.
Bà cũng đề nghị nghiên cứu luật hóa những chính sách đã thí điểm, được thực tiễn chứng minh hiệu quả vào Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp... trong kỳ họp Quốc hội gần nhất nhằm hoàn thiện và thống nhất hệ thống pháp luật.
“Quốc hội đang ban hành liên tục các nghị quyết thí điểm hoặc nghị quyết quy định về cơ chế chính sách đặc thù cho từng dự án quan trọng quốc gia. Cách tiếp cận này cần thiết để xử lý các yêu cầu cấp bách nhưng về lâu dài có thể tạo sự khác biệt về thể chế giữa các địa phương và gia tăng tính phức tạp, phân mảnh của hệ thống pháp luật. Vì vậy, việc mở rộng các cơ chế chính sách đã được thí điểm chứng minh hiệu quả đối với các dự án có quy mô tương tự trên phạm vi cả nước là yêu cầu cần được xem xét từ thực tiễn,” bà Xuân nêu ý kiến.
Phần lớn các cơ chế đang đề xuất không còn là vấn đề riêng của Vành đai 5

Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang). Ảnh: Media Quốc hội
Theo đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang), với dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, Chính phủ đề xuất 10 nhóm cơ chế chính sách đặc thù cho dự án, trong đó có 8/10 chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án trước đây. Điều này cho thấy phần lớn các cơ chế đang đề xuất không còn là vấn đề riêng của Vành đai 5 mà phản ánh những khó khăn, vướng mắc mang tính phổ biến trong quá trình đầu tư các dự án giao thông lớn, nhất là về giải phóng mặt bằng, đất đai, rừng, vật liệu, bãi đổ thải, điều chỉnh quy hoạch, phân cấp thẩm quyền và huy động nguồn lực.
“Theo tôi khi một cơ chế đã phải áp dụng lặp lại ở nhiều dự án và đã được thực tiễn kiểm nghiệm thì cần đặt vấn đề chuyển từ cơ chế đặc thù sang chính sách chung. Nếu mỗi dự án phải tiếp tục trình Quốc hội một nghị quyết riêng để xin lại những cơ chế cơ bản giống nhau thì vừa kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư, vừa làm phân tán hệ thống pháp luật và có thể tạo sự khác nhau giữa các dự án có tính chất tương đồng,” bà Lan nói.
Đại biểu Lan đề nghị Chính phủ rà soát toàn bộ 10 nhóm chính sách đang trình Quốc hội đối với Vành đai 5 cùng với các cơ chế đã áp dụng tại các dự án giao thông trọng điểm trong thời gian qua để phân loại rõ những chính sách đã đủ độ chín, được chứng minh thực tiễn hiệu quả thì cần được luật hóa. Những chính sách cần tiếp tục kiểm nghiệm thì nghiên cứu xây dựng một cơ chế khung có tiêu chí, điều kiện và phạm vi áp dụng rõ ràng đối với các dự án giao thông trọng điểm liên vùng.
Đại biểu cũng đề nghị trong quá trình hoàn thiện chính sách cần tính đến các tuyến cao tốc miền núi biên giới. Đây là những dự án cũng gặp các vướng mắc trong 10 nhóm chính sách của Vành đai 5 đang xử lý, thậm chí khó khăn hơn do địa hình phức tạp, chi phí đầu tư lớn, nguồn lực địa phương hạn chế, trong khi lưu lượng và khả năng hoàn vốn trong giai đoạn đầu thấp.
“Từ thực tiễn của tỉnh Tuyên Quang có thể thấy, cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai và việc tiếp tục đầu tư cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang là đang từng bước hình thành trục kết nối với vùng Thủ đô qua các tỉnh miền núi đến khu vực biên giới phía Bắc. Với những tuyến như vậy, hiệu quả đầu tư không thể chỉ tính bằng lưu lượng phương tiện hay khả năng thu phí trước mắt mà cần phải đánh giá tổng thể hiệu quả mở rộng không gian phát triển, liên kết vùng, thu hút đầu tư, phát triển du lịch, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống người dân miền núi biên giới,” đại biểu Lan phân tích.
Với chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, Chính phủ đề xuất áp dụng 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt, gồm 8 chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án liên quan: Thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn cho dự án; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; chỉ định thầu; điều chỉnh các quy hoạch có liên quan; giá trị tăng thêm từ khu vực dọc tuyến đường dự án.
Hai chính sách mới gồm: Công tác bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất; thẩm quyền quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư.

Đại biểu Lò Thị Luyến (Đoàn Điện Biên). Ảnh: Media Quốc hội
Theo đại biểu Lò Thị Luyến (Đoàn Điện Biên), việc ban hành các cơ chế đặc thù là cần thiết bởi thực tiễn triển khai các dự án giao thông trọng điểm thời gian qua cho thấy một số quy định, trình tự thủ tục hiện hành chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án quy mô lớn, có tính chất liên vùng để dự án phát huy hiệu quả sớm hơn.
“Thực tế hiện nay các địa phương khi tổ chức thực hiện một số dự án có quy mô lớn cũng gặp phải những khó khăn và cũng mong muốn được Trung ương quan tâm cho phép áp dụng các chính sách đặc thù này,” bà Luyến nói.
Hiện tại, Sơn La cũng đang đề xuất được áp dụng các nhóm cơ chế chính sách đặc thù gồm: Cơ chế về thẩm quyền nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, chỉ định thầu, khoáng sản làm vật liệu xây dựng, bãi đổ chất thải. Đây là những cơ chế chính sách có tính chất tương đồng với các cơ chế chính sách đã từng được Quốc hội cho phép áp dụng đối với một số dự án đường bộ cao tốc trước đây, theo đại biểu Lò Thị Luyến.
“Thay vì mỗi dự án lại xây dựng một nghị quyết, một cơ chế đặc thù riêng thì có thể nghiên cứu xây dựng một khung cơ chế chung, trong đó quy định rõ các nhóm chính sách được áp dụng, điều kiện tiêu chí để dự án được áp dụng, thẩm quyền quyết định, trách nhiệm của các cơ quan và cơ chế kiểm tra giám sát. Khi đó, những dự án đáp ứng đủ điều kiện có thể được áp dụng ngay cơ chế chính sách đã được xác lập thay vì tiếp tục phải xây dựng và trình một cơ chế đặc thù riêng,” đại biểu nêu ý kiến.
Phát biểu giải trình cuối phiên thảo luận, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết sẽ tiếp thu các ý kiến đại biểu, rà soát để các tuyến cao tốc trong giai đoạn 2026-2030 cũng được thực hiện theo các cơ chế chính sách đặc thù. “Các cơ chế, chính sách giúp tháo gỡ những điểm nghẽn, những nút thắt trong quá trình thực hiện đường cao tốc vừa qua sẽ được cụ thể hóa trong các văn bản tới đây,” Bộ trưởng nói.
Đinh Nhung
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
12 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước