Rủi ro đứt gãy logistics: 'Cú sốc' mới đe dọa chuỗi cung ứng ngành ô tô
Chuỗi cung ứng không chỉcòn tính bằng chi phí
Đại dịch COVID-19, xung đột Nga - Ukraine và những căng thẳng thương mại liên tiếp thời gian qua cho thấy chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng dễ tổn thương trước các cú sốc ngoại cảnh. Doanh nghiệp vì vậy không chỉ phải tính đến bài toán tối ưu chi phí mà còn phải tính đến khả năng chống chịu, đa dạng hóa nguồn cung, số hóa và giảm phát thải.
Đây là một trong những vấn đề được đặt ra tại Hội thảo Quốc tế về Hậu cần và Chuỗi cung ứng bền vững (ISLOGS’26), do Đại học Phenikaa chủ trì ngày 27-28/8/2026, quy tụ gần 200 nhà khoa học, chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và đại diện doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Hơn 200 nghiên cứu đã được gửi tới hội thảo, tập trung vào logistics số, AI, logistics xanh và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

GS.TS Vũ Văn Trường, Phó Giám đốc Đại học Phenikaa. Ảnh: Phi Hùng.
GS.TS Vũ Văn Trường, Phó Giám đốc Đại học Phenikaa, cho rằng các trường đại học có vai trò quan trọng trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Theo ông, ISLOGS’26 là không gian để nhà khoa học, chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp chia sẻ tri thức, tìm kiếm giải pháp và xây dựng các kết nối hợp tác lâu dài.
PGS.TS Phạm Văn Hồng, Hiệu trưởng Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa, cũng nhấn mạnh hội thảo không chỉ tạo diễn đàn trao đổi học thuật và cung cấp thêm cơ sở khoa học cho tư vấn chính sách, mà còn mở cơ hội để sinh viên tiếp cận chuyên gia và mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Theo ông, logistics đang phát triển nhanh tại Việt Nam nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Việc nhận diện điểm nghẽn, tìm giải pháp tháo gỡ cần sự tham gia của trường đại học, cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và hiệp hội.

PGS.TS Phạm Văn Hồng, Hiệu trưởng Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa.
“Chúng tôi kỳ vọng Hội thảo không dừng ở trao đổi kết quả nghiên cứu mà sẽ mở ra những hợp tác dài hạn về nghiên cứu, đào tạo, trao đổi học thuật và các dự án chung”, ông Hồng cho hay.
Logistics trở thành năng lực cạnh tranh
Thực tế, quy mô xuất nhập khẩu ngày càng lớn đang khiến yêu cầu đối với logistics Việt Nam trở nên khắt khe hơn. Chia sẻ tại hội thảo, ông Ngô Khắc Lễ, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), cho biết kim ngạch xuất khẩu Việt Nam năm 2025 đạt 475,06 tỷ USD, tăng 17%; riêng 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 266,51 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ.
Theo ông Lễ, hàng hóa tăng nhanh đồng nghĩa mạng lưới logistics phức tạp hơn và nhạy cảm hơn với gián đoạn. Thị trường hiện không chỉ đánh giá sản phẩm bằng chất lượng, năng lực sản xuất hay giá thành mà còn bằng thời gian giao hàng, độ tin cậy, khả năng truy xuất, mức độ tuân thủ, khả năng chống chịu và dấu chân carbon.

Ông Ngô Khắc Lễ, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA). Ảnh: Phi Hùng.
“Logistics không còn đơn thuần là một khoản chi phí ở cuối quá trình sản xuất mà ngày càng trở thành một phần của khả năng tiếp cận thị trường và sức cạnh tranh của sản phẩm”, ông Lễ nhận định.
Từ góc nhìn này, Việt Nam cần chuyển từ tư duy phát triển hạ tầng logistics sang xây dựng năng lực logistics, với 5 nhóm năng lực gồm kết nối, hiệu quả, độ tin cậy, khả năng hiển thị và bền vững.
“Logistics cạnh tranh không phải là một năng lực đơn lẻ. Nó là một hệ thống các năng lực được kết nối với nhau”, ông Lễ nhấn mạnh.
Vấn đề này đặc biệt đáng chú ý với ngành ô tô, khi một chiếc xe phụ thuộc vào mạng lưới hàng chục nghìn linh kiện, nhiều cấp nhà cung cấp và các tuyến vận chuyển xuyên biên giới.
Ngành công nghiệp ô tô trước bài toán chống đứt gãy
Trao đổi với PV AutoNews sau hội thảo, GS.TS T. Hikmet Karakoc, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Hàng không và Năng lượng Bền vững Quốc tế (SARES), cho rằng Việt Nam đang có cơ hội lớn từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

GS.TS T. Hikmet Karakoc, Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Hàng không và Năng lượng Bền vững Quốc tế (SARES). Ảnh: Phi Hùng.
Tuy nhiên, để biến cơ hội thành năng lực thực chất, Việt Nam cần củng cố mạng lưới nhà cung cấp trong nước, đồng thời đa dạng hóa nguồn cung quốc tế. Doanh nghiệp cũng cần giảm phụ thuộc vào một nhà cung cấp, quốc gia hoặc tuyến vận chuyển duy nhất.
Theo ông, việc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các nhà sản xuất ô tô toàn cầu cần được thúc đẩy mạnh hơn, đặc biệt về công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực sản xuất.
“Một chuỗi cung ứng ô tô bền vững cần có nền tảng sản xuất và cung ứng đủ mạnh ở trong nước, nhưng đồng thời phải duy trì khả năng kết nối với thị trường toàn cầu”, ông Karakoc nói.
Không chỉ nguồn cung, công nghệ số cũng đang trở thành công cụ quan trọng để tăng khả năng chống chịu. AI và dữ liệu lớn có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho, truy xuất nguồn gốc và kết nối nhà cung cấp.

Các nền tảng số cho phép nhà sản xuất, doanh nghiệp logistics và nhà cung cấp chia sẻ thông tin nhanh hơn. Việc theo dõi linh kiện và nguyên vật liệu xuyên suốt chuỗi cũng giúp phát hiện sớm bất thường, kiểm soát chất lượng và phản ứng nhanh khi xảy ra sự cố.
Bên cạnh nguy cơ đứt gãy, yêu cầu giảm phát thải đang tạo thêm sức ép lên chuỗi cung ứng ô tô. Tuy nhiên, theo ông Karakoc, chuyển đổi xanh không nên chỉ được nhìn nhận như một khoản chi phí.
Tối ưu tuyến vận chuyển, nâng hiệu quả sử dụng phương tiện, phát triển kho bãi tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng sạch và số hóa việc theo dõi tiêu thụ năng lượng, phát thải có thể đồng thời giúp doanh nghiệp giảm chi phí vận hành.
Truy xuất nguồn gốc cũng ngày càng quan trọng khi các thị trường lớn yêu cầu nhiều hơn về thông tin sản phẩm và dấu chân môi trường.
“Điều quan trọng là doanh nghiệp cần kết hợp mục tiêu môi trường với hiệu quả vận hành, thay vì coi đây là hai mục tiêu tách biệt”, ông Karakoc nói.
Không chỉ xây hạ tầng, cầnxây năng lực cung ứng
Theo GS.TS Karakoc, Việt Nam không nên chỉ đầu tư riêng lẻ vào từng hạng mục hạ tầng mà cần nâng khả năng kết nối của toàn bộ mạng lưới. Với ngành ô tô, sự liên kết giữa khu công nghiệp, nhà cung cấp, đường cao tốc, cảng biển, kho bãi và trung tâm logistics có ý nghĩa trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của chuỗi.

Hạ tầng chỉ là một phần của bài toán. Quan trọng hơn là khả năng doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng của các tập đoàn toàn cầu.
Các chương trình phát triển nhà cung cấp, chuyển giao công nghệ, đào tạo, cải tiến chất lượng và nghiên cứu chung có thể giúp doanh nghiệp nâng dần năng lực. Các trường đại học cũng có thể tham gia thông qua đào tạo kỹ sư, chuyên gia và hợp tác nghiên cứu với doanh nghiệp.
“Về lâu dài, những mối liên kết này sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước chuyển từ các hoạt động sản xuất đơn giản sang những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn, bao gồm kỹ thuật, công nghệ và các hoạt động chuyên sâu trong chuỗi cung ứng”, ông Karakoc nói.
Từ những vấn đề được đặt ra tại ISLOGS’26 và góc nhìn chuyên gia sau hội thảo, có thể thấy logistics đang vượt khỏi vai trò vận chuyển hàng hóa đơn thuần để trở thành một phần của năng lực sản xuất và sức cạnh tranh.
Với ngành ô tô, bài toán không chỉ là làm thế nào để giảm chi phí logistics, mà còn phải bảo đảm nguồn cung, nhìn thấy toàn bộ chuỗi, ứng phó nhanh với các cú sốc và nâng khả năng tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Phi Hùng
39 phút trước
23 giờ trước
2 ngày trước
2 ngày trước
6 ngày trước
22 ngày trước
23 ngày trước
24 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
3 tháng trước
8 phút trước
1 giờ trước
23 phút trước
4 phút trước
5 phút trước
6 phút trước