🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Nhật Bản hạ ngưỡng dư lượng tới 250 lần, tỏi, gừng, xoài vào 'vùng siết'

17 phút trước
Nhật Bản đồng loạt đề xuất điều chỉnh MRL của 5 hoạt chất, trong đó có ngưỡng giảm tới 250 lần với tỏi, trong khi chè lại được nới. Doanh nghiệp, HTX còn thời gian góp ý thông qua Văn phòng SPS Việt Nam trước khi các quy định được chốt.

Theo tổng hợp của Văn phòng SPS Việt Nam, từ ngày 16 đến 31/8/2026, các thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có 36 thông báo dự thảo và quy định có hiệu lực liên quan đến các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS). Trong đó, 22 thông báo là dự thảo lấy ý kiến và 14 thông báo đã có hiệu lực.

Nhật Bản hạ MRL tỏi 250 lần, doanh nghiệp xuất khẩu cần theo sát “cửa sổ” SPS.

Đằng sau con số 36 thông báo là những thay đổi kỹ thuật có thể tác động trực tiếp tới khả năng tiếp cận thị trường của nông sản, thực phẩm. Đáng chú ý, Nhật Bản cùng lúc đưa ra 5 dự thảo sửa đổi mức giới hạn tối đa dư lượng (MRL) đối với Chlorothalonil, Pyrifluquinazon, Imidacloprid, Tolfenpyrad và Boscalid. Cả 5 đều có thời hạn góp ý đến ngày 27/10/2026.

4 hoạt chất bị siết, một hoạt chất được nới

Một trong những thay đổi lớn nằm ở Chlorothalonil. Nhật Bản đề xuất hạ MRL đối với tỏi từ 10 xuống 0,04 mg/kg, tức thấp hơn 250 lần. Gạo lứt giảm từ 0,1 xuống 0,05 mg/kg; lúa mì, đại mạch, lúa mạch đen và các loại ngũ cốc khác từ 0,1 xuống 0,01 mg/kg; cà rốt từ 1 xuống 0,4 mg/kg; gừng từ 0,05 xuống 0,01 mg/kg.

Với Boscalid, mức MRL dự kiến đối với gừng giảm từ 2 xuống 0,05 mg/kg, tương đương giảm 40 lần. Đáng chú ý hơn, MRL đối với xoài được đề xuất giảm từ 2 xuống 0,01 mg/kg, tức còn 1/200 mức hiện hành. Mật ong và dầu lạc cũng được đề xuất giảm xuống 0,01 mg/kg.

Pyrifluquinazon cũng nằm trong nhóm được điều chỉnh. Dự thảo hạ MRL đối với một số loại đậu hạt từ 0,05 xuống 0,01 mg/kg; cà tím từ 0,2 xuống 0,1 mg/kg; dưa chuột từ 0,1 xuống 0,07 mg/kg; nho từ 3 xuống 2 mg/kg và một số loại gia vị từ 5 xuống 3 mg/kg. Với những sản phẩm không được quy định MRL trong danh mục, mức chung 0,01 mg/kg được áp dụng.

Tolfenpyrad có diễn biến tương tự nhưng mức điều chỉnh khác nhau theo từng mặt hàng. Nhật Bản đề xuất giảm MRL đối với cải thảo, bắp cải, hẹ, dưa chuột, đào và một số loại quả có múi; đồng thời tăng mức cho hành tây, tỏi, dưa hấu, một số sản phẩm động vật và mật ong. Với sản phẩm không có MRL riêng trong danh mục, mức chung cũng là 0,01 mg/kg.

Những con số này cho thấy doanh nghiệp và hợp tác xã không thể chỉ theo dõi một “ngưỡng SPS của Nhật Bản” nói chung. Việc tuân thủ phải được đối chiếu đến từng mặt hàng và từng hoạt chất.

Bức tranh SPS lần này cũng cho thấy một điểm đáng lưu ý khác. Việc sửa đổi MRL không đồng nghĩa tất cả các ngưỡng đều thấp hơn.

Với Imidacloprid, Nhật Bản đề xuất hạ MRL của gạo lứt từ 1 xuống 0,08 ppm, ngô từ 0,05 xuống 0,02 ppm, cà chua từ 2 xuống 0,9 ppm và một số nhóm rau củ khác. Nhưng ở chiều ngược lại, MRL đối với chè lại được đề xuất tăng từ 10 lên 30 ppm; bắp cải và cải thảo từ 0,5 lên 2 ppm; súp lơ từ 0,4 lên 2 ppm.

Điều này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp xuất khẩu. Thay vì nhìn nhận chung rằng một thị trường đang “siết” hay “nới” SPS, doanh nghiệp cần kiểm tra chính xác tổ hợp thị trường, sản phẩm, hoạt chất, mức MRL và thời điểm áp dụng.

Ở vùng nguyên liệu, sự thay đổi này đặt ra yêu cầu kiểm soát từ sớm hơn. Khi MRL của một hoạt chất trên một nông sản giảm mạnh, việc xử lý không thể chỉ diễn ra ở khâu kiểm nghiệm lô hàng trước xuất khẩu. Quy trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian cách ly, nhật ký canh tác và khả năng truy xuất tại vùng nguyên liệu đều cần được rà soát theo yêu cầu của thị trường đích.

Những điểm đáng chú ý khác trong đợt thông báo

Không chỉ Nhật Bản, nhiều thị trường khác cũng có thay đổi đáng chú ý.

Hoa Kỳ là quốc gia có số lượng thông báo lớn nhất trong đợt tổng hợp này với 9 thông báo, liên quan đến phụ gia màu, phụ gia thức ăn chăn nuôi và MRL hóa chất bảo vệ thực vật.

Trong đó, Hoa Kỳ đã ban hành MRL đối với cypermethrin trên hạt ca cao khô ở mức 0,05 ppm. Quy định được công bố và có hiệu lực từ ngày 20/8/2026. Theo tài liệu của Văn phòng SPS Việt Nam, mức 0,05 ppm được đưa ra thay cho mức 0,02 ppm như đề xuất và hiện chưa có MRL Codex đối với mặt hàng này.

Thổ Nhĩ Kỳ meanwhile đang lấy ý kiến dự thảo quy chuẩn về nước ép trái cây và các sản phẩm tương tự. Phạm vi bao gồm nước trái cây, sản phẩm từ nước trái cây cô đặc, bột nước trái cây, mật hoa, trái cây nghiền nhuyễn và trái cây nghiền nhuyễn cô đặc. Dự thảo quy định cụ thể các chỉ tiêu thành phần, trong đó cồn ethyl tối đa 3 g/L, axit dễ bay hơi không quá 0,4 g/L và axit lactic tối đa 0,5 g/L.

Theo tài liệu tổng hợp, dự thảo này dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, có thời gian chuyển tiếp đối với sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn cũ đến hết ngày 31/12/2027 và thời hạn góp ý đến ngày 26/10/2026.

Trong khi đó, Tanzania đã chính thức thông qua 8 tiêu chuẩn quốc gia đối với nhiều sản phẩm thực phẩm và gia vị, trong đó có cỏ cà ri, hoa hồi, gia vị Tandoori masala, Biriani masala, đồ uống bổ dưỡng gừng và nghệ, dưa cải muối Sauerkraut, kim chi và kombucha.

Điểm đáng chú ý đối với cộng đồng doanh nghiệp nằm ở chỗ 22 trong tổng số 36 thông báo vẫn là dự thảo lấy ý kiến.

Điều đó có nghĩa thông tin SPS không chỉ phục vụ việc cảnh báo doanh nghiệp chuẩn bị tuân thủ sau khi quy định được ban hành. Trong giai đoạn dự thảo, doanh nghiệp, hợp tác xã và hiệp hội ngành hàng còn có cơ hội nghiên cứu tác động và phản hồi nếu nhận thấy quy định có thể tạo ra khó khăn hoặc cần làm rõ về kỹ thuật.

Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị các cơ quan, đơn vị và hiệp hội nghiên cứu các dự thảo, gửi ý kiến bằng tiếng Anh và tiếng Việt nếu có về Văn phòng trước 3 ngày so với thời hạn của từng thông báo, để tổng hợp và gửi tới quốc gia thành viên WTO đăng thông báo.

Thành An

TIN LIÊN QUAN



















































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ