🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Muốn tăng trưởng nhanh, phải khơi thông nguồn lực cho sản xuất

12 giờ trước
(NB&CL) Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vấn đề không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, tháo gỡ rào cản tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư tư nhân. Làm thế nào để dòng vốn thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất, tạo thêm giá trị cho nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững? Phóng viên Báo Nhà báo và Công luận đã trao đổi với đại biểu Quốc hội, PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn TP. Hải Phòng) xung quanh nội dung này.
00:00
00:00

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

+ Thưa đại biểu, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, bên cạnh huy động nguồn lực, vấn đề quan trọng là phải sử dụng vốn hiệu quả. Theo ông, cần đổi mới cách phân bổ và đánh giá hiệu quả đầu tư công như thế nào để không chỉ đẩy nhanh giải ngân mà còn tạo ra năng lực sản xuất mới và sức lan tỏa cho nền kinh tế?

- Tôi cho rằng đã đến lúc phải thay đổi câu hỏi đặt ra với đầu tư công: không chỉ là “đã giải ngân được bao nhiêu” mà là “đồng vốn ấy tạo ra được gì”. Chín tháng năm 2026, GDP tăng 9,01%, riêng quý III đạt 9,95%, mức cao nhất trong nhiều năm, trong đó đầu tư công đóng góp rất quan trọng. Nhưng đến đầu tháng 10, giải ngân cả nước mới đạt khoảng 63,8% kế hoạch, và nguyên nhân chủ yếu vẫn là nhiều dự án chưa đủ thủ tục đầu tư. Nghĩa là điểm nghẽn nằm ngay từ khâu chuẩn bị, chứ không chỉ ở khâu thực hiện.

Đại biểu Quốc hội, PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn. Ảnh: Nguyễn Hường.

Vì vậy, theo tôi cần đổi mới ở ba khâu. Thứ nhất, ở khâu phân bổ, phải chuyển hẳn từ tư duy “chia đều” sang tư duy “chọn trúng”. Vốn phải tập trung vào những công trình tạo ra năng lực sản xuất mới và kéo theo đầu tư khác: hạ tầng giao thông liên vùng, cảng biển, logistics, năng lượng, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, phòng thí nghiệm dùng chung phục vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Dự án nào chưa chuẩn bị kỹ thì chưa bố trí vốn, tránh tình trạng vốn đã giao rồi nằm chờ thủ tục.

Thứ hai, ở khâu đánh giá, cần một bộ chỉ tiêu đo đầu ra và tác động, chứ không chỉ đo tiến độ. Một tuyến đường hoàn thành phải được đánh giá bằng mức giảm chi phí vận tải, lượng hàng hóa lưu thông, số doanh nghiệp và lượng vốn tư nhân được thu hút vào khu vực xung quanh. Chủ trương hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội trước, trong và sau đầu tư đã được Chính phủ đặt ra; điều quan trọng là phải lượng hóa được và công khai kết quả ấy trên nền tảng dữ liệu số, để Quốc hội, Hội đồng nhân dân và người dân cùng giám sát.

Thứ ba là cơ chế trách nhiệm và động lực. Phải gắn kết quả giải ngân và hiệu quả dự án với trách nhiệm người đứng đầu, kịp thời điều chuyển vốn từ nơi làm chậm sang nơi làm được. Đồng thời, cần bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Tôi muốn nhấn mạnh: để vốn nằm im trong tài khoản cũng là một sự lãng phí, không thể coi là “an toàn”. Không làm gì cũng phải bị đánh giá là một khuyết điểm.

+ Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn khó tiếp cận vốn, trong khi nguồn vốn từ ngân hàng còn khả năng đáp ứng. Vậy, cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào trong cơ chế thẩm định tín dụng, tài sản bảo đảm và khả năng hấp thụ vốn để doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh, thưa ông?

- Đây là một nghịch lý cần nhìn thẳng. Đến cuối tháng 9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025; Ngân hàng Nhà nước cũng đã triển khai chương trình tín dụng cho các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa với lãi suất thấp hơn mặt bằng chung. Tức là vốn có, chính sách có, nhưng dòng vốn vẫn chưa chảy đều tới khu vực doanh nghiệp nhỏ. Theo tôi, có ba điểm nghẽn chính.

Điểm nghẽn thứ nhất là thẩm định tín dụng vẫn nặng về tài sản bảo đảm, nhất là bất động sản. Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thường không có nhiều đất đai, nhà xưởng, nhưng có đơn hàng, có dòng tiền, có công nghệ. Cần chuyển mạnh sang cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu: hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, lịch sử thanh toán, giao dịch trên các nền tảng số. Muốn vậy phải kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, hệ thống thông tin tín dụng và ngân hàng, trên cơ sở bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Điểm nghẽn thứ hai là khung pháp lý cho các loại tài sản bảo đảm mới. Quyền sở hữu trí tuệ, kết quả nghiên cứu, khoản phải thu, hàng tồn kho, máy móc, thiết bị… đều có giá trị nhưng khó được chấp nhận vì thiếu cơ chế định giá, đăng ký và xử lý tài sản thuận lợi. Đây là phần việc Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện, đồng thời nâng cao năng lực các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn hoạt động còn khá cầm chừng ở nhiều địa phương.

Điểm nghẽn thứ ba nằm ở cả hai phía. Phía ngân hàng, cán bộ tín dụng còn tâm lý sợ trách nhiệm khi cho vay không có tài sản thế chấp; cần phân định rõ: tuân thủ đúng quy trình, thẩm định trung thực thì rủi ro kinh doanh khách quan không bị quy trách nhiệm cá nhân, càng không bị hình sự hóa. Phía doanh nghiệp, khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế do sổ sách chưa minh bạch, phương án kinh doanh chưa thuyết phục. Vì vậy, cùng với tín dụng, cần hỗ trợ doanh nghiệp về quản trị, kế toán, chuyển đổi số, và mở thêm các kênh vốn như quỹ đầu tư mạo hiểm, thị trường vốn, để doanh nghiệp không chỉ trông vào ngân hàng.

+ Đầu tư công có thể tạo hạ tầng và mở đường cho đầu tư tư nhân, trong khi doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Theo ông, cần những giải pháp đột phá nào để kết nối hai nguồn lực này, khơi thông dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững?

- Tôi hình dung đầu tư công là “vốn mồi”, còn đầu tư tư nhân là “dòng chảy chính”. Vốn mồi chỉ có ý nghĩa khi kéo theo được dòng chảy. Để kết nối hai nguồn lực này, theo tôi cần mấy giải pháp mang tính đột phá.

Một là, quy hoạch và thông tin phải đi trước. Danh mục dự án đầu tư công, quy hoạch hạ tầng, quỹ đất xung quanh phải được công khai sớm, minh bạch và ổn định, để doanh nghiệp chủ động tính toán đầu tư nhà máy, kho bãi, dịch vụ đi kèm. Đồng thời áp dụng mạnh mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), khai thác giá trị tăng thêm của đất đai quanh công trình hạ tầng để tái đầu tư, thay vì để phần giá trị ấy rơi vào tay đầu cơ.

Hai là, đẩy mạnh hợp tác công - tư một cách thực chất, với cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng, hợp đồng được tôn trọng, tranh chấp được giải quyết nhanh. Nhà đầu tư chỉ bỏ vốn dài hạn khi tin rằng cam kết của Nhà nước được thực hiện đến cùng.

Ba là, dùng chính đầu tư công và mua sắm công để tạo thị trường cho doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp công nghệ. Khi Nhà nước đặt hàng sản phẩm khoa học, công nghệ, ưu tiên vật liệu, thiết bị, giải pháp số do doanh nghiệp Việt Nam làm ra trong các công trình hạ tầng, thì vốn công không chỉ xây nên công trình mà còn nuôi dưỡng năng lực sản xuất. Đây cũng là tinh thần mà Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra.

Bốn là, và đây là điều kiện nền tảng, phải tiếp tục cải cách thể chế: cắt giảm thực chất thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, bảo đảm môi trường pháp lý ổn định, dự báo được. Chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý giảm đi chính là một nguồn vốn vô hình rất lớn được giải phóng cho doanh nghiệp.

Ở Hải Phòng, chúng tôi thấy rõ điều này: hạ tầng cảng biển, đường cao tốc, khu công nghiệp đi trước đã kéo theo làn sóng đầu tư sản xuất và logistics rất mạnh. Kinh nghiệm ấy cho thấy, khi Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo, mở đường, giữ luật chơi minh bạch và ổn định, thì doanh nghiệp sẽ là lực lượng biến dòng vốn thành sản phẩm, việc làm và tăng trưởng bền vững.

+ Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguyễn Hường (Thực hiện)

TIN LIÊN QUAN

































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ