🔍
Chuyên mục: Tài chính

Lãi suất huy động giảm, lãi vay vẫn neo cao

13 giờ trước
Hàng loạt ngân hàng giảm lãi suất huy động sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nhưng lãi suất cho vay vẫn neo cao, chủ yếu giảm theo từng gói tín dụng ưu đãi.
00:00
00:00

Lãi cho vay vẫn neo cao

Tại cuộc họp ngày 19-10 với 46 tổ chức tín dụng, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn yêu cầu các ngân hàng giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi từ kỳ hạn 6 tháng trở lên.

Đến ngày 21-10, NHNN tiếp tục ban hành Công văn số 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) triển khai quyết liệt việc giảm thực chất lãi suất huy động và cho vay. NHNN sẽ theo dõi lãi suất bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới trong những tháng cuối năm 2026. Trường hợp ngân hàng không thực hiện chỉ đạo, cơ quan quản lý có thể áp dụng biện pháp xử lý, trong đó có việc xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Theo ghi nhận đến ngày 22-10, có 22 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Nhóm Big4 gồm Agribank, Vietcombank, BIDV và VietinBank đã giảm lãi suất tại quầy. Tuy nhiên, lãi suất huy động trực tuyến của nhóm này vẫn được giữ ở mức 6,6%/năm đối với kỳ hạn 6-11 tháng và 6,8%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng. Nhiều ngân hàng cổ phần cũng điều chỉnh giảm lãi suất huy động.

Dù vậy, mặt bằng lãi suất cho vay chưa giảm tương ứng. Thay vì điều chỉnh đồng loạt, nhiều ngân hàng chủ yếu triển khai các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm 1,5-2%/năm. Nhóm Big4 có các chương trình quy mô lớn như gói 100.000 tỷ đồng của BIDV, 70.000 tỷ đồng của Agribank.

Thực tế, trước khi NHNN yêu cầu giảm lãi suất, chi phí vay vốn tại nhiều ngân hàng đã tăng cao. Số liệu công bố cuối tháng 9 cho thấy khoảng 30 ngân hàng ghi nhận lãi suất cho vay bình quân trong tháng tiếp tục nhích lên.

Ở nhóm ngân hàng cổ phần, OCB dẫn đầu về lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân, ở mức 11,38%/năm; tiếp đến là TPBank (11,03%) và BVBank (11%). Một số ngân hàng như LPBank, Bac A Bank, VietABank có lãi suất cho vay bình quân dao động 10,2-10,8%/năm; VIB, ACB, PVcomBank, KienlongBank, MSB và Saigonbank ở khoảng 9-9,8%/năm.

Trong khi đó, lãi suất cho vay bình quân tại BIDV ở mức 7,73%/năm, Agribank (8,42%/năm). Nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam phổ biến khoảng 7-8%/năm, dù có trường hợp như Standard Chartered lên đến 10,6%/năm.

Bài toán chi phí vốn

Theo số liệu được NHNN công bố, đến tháng 9, tiền gửi của người dân tại hệ thống ngân hàng đạt khoảng 11,43 triệu tỷ đồng, tăng gần 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương 10,63% so với cuối năm 2025. Tiền gửi cá nhân đóng góp khoảng 87,5% mức tăng thêm của tiền gửi toàn hệ thống. Tiền gửi của doanh nghiệp cũng tăng mạnh, đạt khoảng 6,34 triệu tỷ đồng.

Dòng tiền tiếp tục chảy vào ngân hàng phản ánh tâm lý ưu tiên bảo toàn vốn trước những biến động khó lường của các kênh đầu tư. Tiền gửi tiết kiệm vẫn hấp dẫn nhờ tính thanh khoản và nguồn thu nhập tương đối ổn định.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tín dụng tăng nhanh đang tạo thêm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Đến ngày 14-10, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 21 triệu tỷ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm 2025 và gần 17% so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn, các ngân hàng phải cân đối nguồn huy động, bảo đảm thanh khoản và đáp ứng các yêu cầu an toàn hoạt động.

TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, cho rằng để duy trì mặt bằng lãi suất ổn định, tăng trưởng tín dụng cần phù hợp với khả năng huy động vốn, năng lực vốn tự có và khả năng quản trị rủi ro của từng ngân hàng.

Theo ông Hiếu, hoạt động cho vay có thể tạo ra tiền gửi trong hệ thống, nhưng mỗi ngân hàng vẫn phải đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền và các yêu cầu về thanh khoản. “Khi tín dụng tăng nhanh, đặc biệt ở các khoản vay trung và dài hạn, áp lực tìm kiếm nguồn vốn phù hợp sẽ gia tăng. Nếu vừa thúc đẩy tín dụng tăng mạnh, vừa yêu cầu giảm sâu lãi suất trong khi nền tảng vốn và chất lượng tài sản chưa được cải thiện, chính sách có thể tạo ra sức ép ngược chiều” - ông Hiếu phân tích.

Thực tế, sau đợt yêu cầu giảm lãi suất hồi tháng 4 vừa qua, các ngân hàng đã thống nhất giảm lãi suất huy động và cho vay từ ngày 10-4. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản sau đó khiến lãi suất huy động chịu sức ép tăng trở lại. Diễn biến này cho thấy cam kết giảm lãi suất khó duy trì nếu các điều kiện thị trường chưa thuận lợi.

TS. Nguyễn Đức Độ, Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính, Học viện Tài chính, nhận định trở ngại lớn đối với việc giảm lãi suất cho vay hiện nay là chi phí huy động vốn vẫn cao. Các ngân hàng phải bảo đảm biên lợi nhuận và đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn. Nếu lãi suất đầu ra bị kéo xuống trong khi giá vốn đầu vào chưa giảm tương ứng, biên lợi nhuận thu hẹp có thể khiến ngân hàng thận trọng hơn khi giải ngân.

Ông Độ cũng lưu ý tăng trưởng tín dụng kéo dài ở mức cao hơn tăng trưởng GDP danh nghĩa sẽ tạo sức ép lên nguồn vốn, bởi khả năng tích lũy tiền gửi của người dân về dài hạn phụ thuộc vào tốc độ tăng thu nhập.

Để hỗ trợ giảm lãi suất cho vay, ông Độ đề xuất có thể xem xét giải pháp hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước, với cơ chế minh bạch, bảo đảm chuẩn mực kiểm toán và khả năng tiếp cận vốn thực chất của doanh nghiệp. Cùng với đó, các ngân hàng cần ưu tiên vốn cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiết giảm chi phí vận hành và chia sẻ một phần lợi nhuận.

Việc giảm lãi suất theo chỉ đạo của NHNN có thể tạo hiệu ứng hỗ trợ trước mắt cho doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, để mặt bằng lãi suất thấp được duy trì, cần giải quyết đồng thời bài toán huy động vốn, thanh khoản và chất lượng tín dụng. Khi chi phí đầu vào chưa giảm bền vững, việc hạ lãi suất cho vay khó chỉ dựa vào cam kết, mà phải gắn với điều kiện thị trường và năng lực tài chính của từng ngân hàng.

HOÀNG SƠN

TIN LIÊN QUAN



































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ