🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xuất khẩu gạo 2026: Dự kiến 7,73 triệu tấn và bài toán điều hành

4 giờ trước
Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, cả nước ước gieo cấy 7,09 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,4 tạ/ha, đưa sản lượng lúa lên khoảng 43,552 triệu tấn. Theo đó, Bộ dự kiến lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu tương đương 7,73 triệu tấn và kiến nghị Bộ Công Thương điều hành xuất khẩu theo các tháng thu hoạch lớn, đồng thời siết minh bạch thu mua, duy trì dự trữ và đẩy mạnh chuyển đổi số để cảnh báo sớm rủi ro cung - cầu.

Gạo chất lượng cao chiếm tỷ trọng chủ đạo

Bức tranh sản xuất lúa gạo năm 2026 được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phác họa theo hướng “giảm diện tích, tăng năng suất” để ổn định sản lượng. Diện tích gieo cấy lúa cả nước ước đạt 7,09 triệu ha, giảm 36.000 ha, nhưng năng suất bình quân tăng lên 61,4 tạ/ha, cao hơn 0,3 tạ/ha so với cùng kỳ 2025. Nhờ vậy, sản lượng lúa năm 2026 ước đạt 43,552 triệu tấn, nhích tăng 12.000 tấn so với năm trước. Đây là điểm đáng chú ý bởi trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp chịu cạnh tranh từ đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng, việc giữ ổn định sản lượng dựa vào nâng năng suất vẫn là trụ cột bảo đảm an ninh lương thực và nguồn hàng xuất khẩu.

Ảnh minh họa

Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, gạo hàng hóa xuất khẩu tiếp tục tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long; các vùng khác cơ bản phục vụ tiêu dùng nội địa. Ước sản xuất lúa cả năm tại Đồng bằng sông Cửu Long và một phần Tây Ninh (Long An cũ) đạt 3,84 triệu ha, cho sản lượng khoảng 24,34 triệu tấn. Nếu đặt con số này cạnh quy mô sản lượng toàn quốc, có thể thấy vùng châu thổ vẫn là “động cơ” của chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, đóng vai trò vừa cung cấp sản lượng lớn vừa định hình chất lượng và cơ cấu mặt hàng.

Từ phía “cầu” nội địa, Bộ ước tính lượng lúa tiêu thụ trong nước của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, TP. Hồ Chí Minh và các nhu cầu khác như làm giống, thức ăn chăn nuôi… vào khoảng 8,9 triệu tấn. Khi trừ đi phần tiêu thụ nội địa này, lượng lúa hàng hóa còn lại ước khoảng 15,46 triệu tấn, tương đương 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Việc quy đổi này cho thấy cơ quan quản lý đang nhìn chuỗi giá trị theo logic cân đối cung - cầu, không chỉ đếm sản lượng thu hoạch mà còn tính đến phần “rút” khỏi thị trường vì nhu cầu nội địa và các mục đích sử dụng khác.

Đáng chú ý, cơ cấu gạo hàng hóa dự kiến phục vụ xuất khẩu nghiêng mạnh về phân khúc chất lượng cao. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, gạo chất lượng cao và gạo thơm khoảng 5,798 triệu tấn, tương đương 75% tổng lượng gạo hàng hóa xuất khẩu; gạo nếp khoảng 773.000 tấn, tương đương 10%; phần còn lại là gạo chất lượng phục vụ chế biến khoảng gần 1,16 triệu tấn, chiếm 15%. Cơ cấu này phản ánh xu hướng nâng giá trị gia tăng và đáp ứng phân khúc tiêu dùng khắt khe hơn, thay vì chỉ chạy theo sản lượng. Đồng thời, nó cũng đòi hỏi khâu thu mua, phân loại, bảo quản và chế biến phải đồng bộ để giữ ổn định chất lượng, đặc biệt với gạo thơm vốn nhạy cảm với quy trình sau thu hoạch.

Về tiến độ cung ứng theo thời gian, Bộ dự kiến lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu 6 tháng đầu năm khoảng 4,014 triệu tấn và 6 tháng cuối năm khoảng 3,716 triệu tấn. Cách chia này hàm ý yếu tố mùa vụ vẫn là biến số quyết định: khi nguồn thu hoạch dồn vào một số giai đoạn, điều hành xuất khẩu cần linh hoạt để vừa tận dụng “cửa sổ” thị trường vừa tránh gây sốc nguồn cung trong nước.

Siết minh bạch thu mua và số hóa cảnh báo rủi ro

Trên cơ sở nguồn gạo dự kiến, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Bộ Công Thương tập trung đẩy mạnh xuất khẩu vào các tháng có sản lượng thu hoạch lớn gồm tháng 1, 3, 4, 7, 8 và 9 của năm 2026. Đây là cách tiếp cận điều hành theo “nhịp” mùa vụ, nhằm tối ưu dòng chảy hàng hóa: khi nguồn cung dồi dào, xuất khẩu được thúc mạnh để giải phóng tồn kho, giảm áp lực lưu trữ và giúp thị trường trong nước hấp thụ tốt hơn.

Song song với mục tiêu “đẩy” xuất khẩu, Bộ nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực trong nước thông qua duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu theo quy định và thực hiện chế độ báo cáo tồn kho để cơ quan điều hành có dữ liệu theo dõi, cảnh báo sớm. Khi tồn kho giảm nhanh hoặc giá nội địa biến động bất thường, nhà điều hành có thể kích hoạt biện pháp bình ổn, ưu tiên cung ứng thị trường trong nước khi có chỉ đạo.

Bên cạnh đó, từng bước hình thành công cụ giám sát, cảnh báo sớm rủi ro cung - cầu lúa gạo trên nền tảng số. Đây sẽ là bước chuyển từ điều hành dựa nhiều vào báo cáo thủ công sang điều hành dựa vào dữ liệu cập nhật, giúp dự báo tốt hơn các “điểm gãy” như dồn hàng lúc thu hoạch, thiếu hụt cục bộ, hay biến động bất thường từ thị trường quốc tế. Cùng với đó, Bộ đề nghị tăng cường xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và phân khúc sản phẩm, cũng như ứng dụng chuyển đổi số để xây dựng các kịch bản điều hành và quản lý xuất nhập khẩu phù hợp với diễn biến thế giới lẫn trong nước. Nói cách khác, điều hành xuất khẩu gạo không chỉ là câu chuyện mở - đóng theo thời điểm, mà là bài toán quản trị rủi ro trước biến động giá, chính sách nhập khẩu và cạnh tranh toàn cầu.

Ở tầng “vi mô” của chuỗi cung ứng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt trọng tâm vào việc chuẩn hóa hoạt động thu mua lúa hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Theo đề nghị, Bộ Công Thương phối hợp với UBND các tỉnh nghiên cứu giải pháp chuẩn hóa các chủ thể tham gia thu mua như thương lái, đại lý thu mua trong chuỗi liên kết với thương nhân xuất khẩu và cơ sở chế biến thông qua hợp đồng thu mua hoặc hợp đồng đại lý, đồng thời yêu cầu thương lái có đăng ký kinh doanh và tuân thủ quy định pháp luật về thương mại. Khi khâu thu mua được “định danh” rõ ràng bằng pháp lý và hợp đồng, rủi ro tranh chấp, ép giá hoặc đầu cơ cũng có cơ sở để xử lý minh bạch hơn.

Minh bạch thông tin là trụ cột khác được nhấn mạnh. Bộ đề nghị các doanh nghiệp và cơ sở chế biến công khai hệ thống điểm thu mua, niêm yết giá mua theo chủng loại, chất lượng, mùa vụ để người bán nắm được mặt bằng giá và hạn chế tình trạng “mù thông tin” ngay tại ruộng. Cùng với đó là tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường thu mua và xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại, ép giá, đầu cơ, nhằm hài hòa lợi ích giữa người sản xuất và doanh nghiệp. Khi lợi ích trong chuỗi được phân bổ hợp lý hơn, vùng nguyên liệu sẽ ổn định, chất lượng đầu vào được nâng lên, và mục tiêu xuất khẩu gạo chất lượng cao mới có nền tảng bền vững.

Ở góc nhìn chính sách dài hạn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng góp ý về các bước tiếp theo như trình ban hành nghị định sửa đổi Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo và xây dựng cơ chế quản lý nhập khẩu gạo nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và chuỗi giá trị lúa gạo, nhất là khi nhiều thị trường nhập khẩu lớn đang tăng cường đầu tư để tự chủ lương thực. Những đề xuất này cho thấy tư duy điều hành đang dịch chuyển từ phản ứng theo sự kiện sang kiến tạo khung chính sách vừa mở đường cho xuất khẩu, vừa tạo “đệm” bảo vệ sản xuất nội địa trước các cú sốc thương mại.

Đức Thuận

TIN LIÊN QUAN


































Home Icon VỀ TRANG CHỦ