🔍
Chuyên mục: Thời sự

Tiên phong theo tiếng gọi của kỷ nguyên mới (kỳ II): Tự cường bằng thế và lực mới

5 giờ trước
Từ “tự cường để tồn tại” giữa bom đạn và bao vây, Việt Nam bước vào kỷ nguyên “tự cường bằng thế và lực mới”, với nền tảng phát triển vững chắc hơn, v

Từ “tự cường để tồn tại” giữa bom đạn và bao vây, Việt Nam bước vào kỷ nguyên “tự cường bằng thế và lực mới”, với nền tảng phát triển vững chắc hơn, vị thế quốc tế cao hơn và tầm nhìn dài hạn hơn.

Mỗi người, hãy là ánh sao sáng của “đội quân tiên phong”

Nguyễn Dy Niên

Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao

Điều khiến tôi phấn khởi nhất tại Đại hội XIV là nhận thức của các ngành, các cấp về vai trò đặc biệt quan trọng của công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây là lực lượng vô cùng quan trọng.

Theo tôi, sự kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao, quốc phòng và an ninh là yêu cầu tất yếu, mang tính bắt buộc. Thực tiễn cho thấy sự thống nhất, phối hợp rất cao giữa ba trụ cột này, cùng chung mục tiêu tìm ra những giải pháp hiệu quả để thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với các nước.

Hoạt động đối ngoại giờ đây thuận lợi hơn thời của tôi rất nhiều. Tất nhiên, khó khăn và thách thức cũng không ít, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay biến động và đảo chiều, với nhiều diễn biến rất phức tạp. Tuy vậy, tôi vẫn tin rằng nền ngoại giao của chúng ta đủ vững chắc để thích ứng.

Với sự lãnh đạo của Đảng, với nhận thức ngày càng đầy đủ về vị trí của công tác đối ngoại trong sự nghiệp phát triển đất nước, ngoại giao Việt Nam có cơ sở vững chắc để tiến lên.

Tổng Bí thư Tô Lâm bắt tay nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên tại lễ kỷ niệm 80 năm ngành Ngoại giao, ngày 25/8/2025.

Tôi cho rằng ngoại giao phải là “người lính” tiên phong, đi trước mở đường. Điều này đã được thể hiện rất rõ ngay từ đường hướng lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vì sao Bác Hồ lại là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam? Bởi Bác nhận thức rất rõ rằng, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, ngoại giao phải đi đầu. Vì vậy, Bác đã linh hoạt duy trì quan hệ với nhiều “đối tượng” khác nhau, như Mỹ, Pháp, tạo ra điều kiện thuận lợi duy trì phong trào cách mạng và đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong thời bình, vai trò của đối ngoại càng quan trọng. Thực tiễn công tác cho thấy, trong quan hệ với các nước, quyết định chính trị (political decision) là yếu tố cốt lõi, và ngoại giao có thể tạo ra những quyết định như vậy, với tác động lan tỏa lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, phát triển, du lịch và nhiều lĩnh vực khác.

Những điểm nhấn trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về đối ngoại cho thấy công tác này đã được đặt đúng tầm, tương xứng với vai trò và vị thế hiện nay.

Công tác đối ngoại phải làm cho thế giới thấy rằng Việt Nam coi trọng bạn bè, sự hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài, nhưng đồng thời, có thể đóng góp, hỗ trợ và tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển chung của thế giới. Chúng ta vừa là đối tác tin cậy, vừa là chủ thể trách nhiệm với hòa bình và sự phát triển của nhân loại.

Tôi theo dõi từng bước phát triển của đối ngoại Việt Nam, và mỗi bước tiến đó đều khiến tôi rất vui mừng, hạnh phúc. Sự phát triển của ngành Ngoại giao giống như "liều thuốc bổ" giúp tôi vui sống. Ở tuổi 92, mỗi ngày tôi đều cảm thấy hạnh phúc và thanh thản khi đất nước không ngừng phát triển và công tác đối ngoại cũng trên đà tiến lên mạnh mẽ.

Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên trả lời phỏng vấn Báo Thế giới và Việt Nam.

Ngoại giao - Động lực kiến tạo phát triển

Đại sứ Phạm Quang Vinh

Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao

Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi sâu sắc, ngoại giao Việt Nam càng đứng trước những yêu cầu đổi mới rất căn bản.

Trước hết, đó là đổi mới tư duy chiến lược về phát triển đất nước, trong đó có tư duy về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Những định hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã xác định rất rõ mục tiêu xây dựng một Việt Nam thịnh vượng và hùng cường dựa trên mô hình tăng trưởng mới, với động lực là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây chính là nền tảng để xác định phương hướng phát triển của đối ngoại trong giai đoạn mới.

Song song với đó, đối ngoại phải góp phần tạo dựng môi trường chiến lược thuận lợi cho hòa bình, ổn định và an ninh của đất nước, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Sau bốn thập kỷ hội nhập quốc tế, Việt Nam đã hình thành được một hệ thống liên kết kinh tế và chuỗi cung ứng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của đất nước. Cùng với đó là vị thế ngày càng được nâng cao thông qua việc tham gia tích cực vào các cơ chế và hoạt động quốc tế. Đây là những nền tảng rất quan trọng để đối ngoại tiếp tục được nâng tầm.

Đối ngoại phải bắt kịp tư duy đổi mới và phát triển của đất nước. Việt Nam không chỉ tiếp tục hội nhập mà phải hội nhập ở trình độ cao hơn.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã tham dự và phát biểu chỉ đạo tại Phiên toàn thể với chủ đề "Ngoại giao phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới – Tư duy đột phá, hành động quyết liệt, kết quả thực chất” trong khuôn khổ Hội nghị ngoại giao lần thứ 33 ngày 4/8.

Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục củng cố không gian phát triển và các chuỗi cung ứng mà Việt Nam đã tham gia; đồng thời mở rộng thêm những không gian hợp tác mới. Những bước tiến gần đây trong quan hệ với Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh cho thấy dư địa hợp tác của Việt Nam vẫn còn rất lớn.

Quan trọng hơn, Việt Nam cần tham gia vào những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do là một lợi thế rất lớn, nhưng vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để khai thác các FTA đó ở những nấc thang phát triển cao hơn.

Bên cạnh đó, chuyển giao khoa học, công nghệ phải trở thành một trọng tâm của đối ngoại trong giai đoạn mới. Chỉ khi tiếp cận được những công nghệ tiên tiến, Việt Nam mới có thể tạo ra những động lực tăng trưởng mới và nâng cao chất lượng phát triển.

Một yêu cầu khác cũng hết sức quan trọng là bảo đảm tính bền vững và khả năng chống chịu của các chuỗi cung ứng trước những biến động của cạnh tranh chiến lược, địa chính trị hay các cú sốc từ kinh tế thế giới. Những kinh nghiệm ứng phó với các cuộc khủng hoảng gần đây, đặc biệt liên quan đến năng lượng và chuỗi cung ứng ở Trung Đông, đều cho thấy đây là bài học có ý nghĩa lâu dài đối với Việt Nam.

Để đáp ứng những yêu cầu đó, đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại cũng cần có sự chuyển biến mạnh mẽ:

Đầu tiên, cần nắm vững tư duy chiến lược mới về đối ngoại của Việt Nam trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Thứ hai, cần nhận thức rõ rằng đối ngoại ngày nay không chỉ thực hiện chức năng đối ngoại theo nghĩa truyền thống mà đã trở thành một bộ phận kiến tạo những động lực cho tăng trưởng và phát triển, đồng thời kiến tạo môi trường an ninh thuận lợi cho đất nước. Điều đó đòi hỏi người làm đối ngoại phải trực tiếp góp phần hiện thực hóa những mục tiêu phát triển đó.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ đối ngoại phải chủ động tiếp cận khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo ra những động lực phát triển mới. Người làm đối ngoại hiện nay không chỉ cần nắm vững các vấn đề quốc tế mà còn phải hiểu sâu những lĩnh vực chuyên ngành liên quan đến phát triển.

Đối ngoại đang được đặt ở một vị thế mới. Các nghị quyết gần đây của Đảng đã xác định đối ngoại không chỉ là lĩnh vực tiên phong mà còn là trọng yếu, thường xuyên. Đây là sự thay đổi rất quan trọng về tư duy.

Tiên phong có nghĩa là đối ngoại phải đi trước trong nhiều lĩnh vực, từ dự báo tình hình quốc tế, tham mưu chính sách đối với các đối tác, nhận diện sớm những nguy cơ có thể tác động đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước, cho đến thúc đẩy gắn kết giữa ngoại giao với phát triển kinh tế, đặc biệt trong việc tranh thủ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, với vai trò là lĩnh vực trọng yếu, thường xuyên, đối ngoại không thể tách rời quốc phòng, an ninh hay kinh tế. Người làm công tác đối ngoại cần có đủ kiến thức, đủ khả năng kết nối và phối hợp để tham mưu không chỉ cho lĩnh vực đối ngoại mà còn cho các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và kinh tế trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Một yêu cầu mới khác là ngoại giao phải thích ứng với môi trường quốc tế hiện đại. Ngoại giao dựa trên khoa học, công nghệ, ứng dụng AI, công nghệ số và internet không chỉ là đổi mới về phương tiện mà quan trọng hơn là đổi mới về tư duy và phương thức hành động.

Cuối cùng, nền đối ngoại Việt Nam được xây dựng trên ba trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Trung ương và đối ngoại địa phương. Trong giai đoạn mới, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ các trụ cột đó, đặc biệt là hỗ trợ hiệu quả hơn cho cộng đồng doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao trả lời phỏng vấn Thế giới và Việt Nam.

Sức mạnh đưa Việt Nam vươn tầm thế giới

Đại sứ Phan Thúy Thanh

Sau 81 năm giành độc lập, Việt Nam không chỉ tạo dựng vị thế ngày càng vững chắc trên trường quốc tế mà còn trở thành đối tác tin cậy của nhiều quốc gia. Đằng sau hành trình ấy là sự kiên định về đường lối đối ngoại, tinh thần đoàn kết dân tộc cùng cách tiếp cận dựa trên lòng tin và sự chân thành trong quan hệ quốc tế.

Có thể nói rằng, Việt Nam đang dần trở thành hình mẫu của việc biến "kẻ thù" thành "bạn bè". Ngày nay, nước ta không chỉ là một phần của thế giới đang biến chuyển không ngừng, mà còn là nhân tố tích cực góp phần định hình tương lai bằng tinh thần quả cảm, trách nhiệm vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy hòa bình và ổn định toàn cầu.

Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra rằng, tại sao Việt Nam, một đất nước từng chịu tổn thương và đau khổ tột cùng bởi chiến tranh, nghèo đói, bao vây cấm vận, không những không sụp đổ mà còn có thể vững vàng vươn lên đầy tự hào và kiêu hãnh, trở thành biểu tượng của sự bao dung, cởi mở, thủy chung và đoàn kết trong một thế giới có bối cảnh địa chính trị đầy phức tạp, bất ổn và nghi kỵ? Bí mật của Việt Nam nằm ở đâu?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 tháng 6/2026.

Nhìn lại lịch sử quan hệ quốc tế, ít có dân tộc nào phải trải qua nhiều hy sinh và mất mát do chiến tranh, chia cắt như dân tộc Việt Nam. Hơn ai hết, người Việt Nam chúng ta trân trọng, nâng niu từng giây phút bình yên cũng như những giá trị của hòa bình, hợp tác, đoàn kết và phát triển. Đồng thời, chúng ta cũng thấu hiểu rằng, một đất nước muốn vươn lên mạnh mẽ, có cơ đồ và tương lai tươi sáng, mang lại ấm no và hạnh phúc cho nhân dân thì trước hết phải có ổn định chính trị, kinh tế phát triển và duy trì được sự cân bằng trong các mối quan hệ quốc tế.

Chính vì thế, trong suốt 81 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nhất quán, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa với tầm nhìn chiến lược. Việc vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng nghệ thuật “ngũ tri” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến) đã giúp đối ngoại Việt Nam luôn vững vàng, chủ động, sáng tạo, nhạy bén trong việc vừa kiên định nguyên tắc bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia, vừa xử lý đúng đắn những mối quan hệ quốc tế tế nhị, phức tạp để phụng sự đất nước.

Nhân dân Việt Nam đã nỗ lực không ngừng nghỉ, nén lại đau thương để có thể “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng đến tương lai”, biến thù thành bạn, chuyển đối đầu thành đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đưa đối thủ thành đối tác. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần để Việt Nam vượt qua quá khứ, tranh thủ sự ủng hộ của cả đối thủ lẫn bạn bè.

Quan điểm chủ đạo trong việc thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam chính là “lòng tin, sự chân thành và đoàn kết”, bởi “lòng tin xóa đi hận thù và sự khác biệt; lòng tin là điều kiện tiên quyết bảo đảm mọi quan hệ hợp tác bền chặt, hiệu quả và thực chất”. Đồng thời, sự chân thành giúp các bên tăng cường chia sẻ, cảm thông, củng cố hy vọng và niềm tin. Bên cạnh đó, “sự đoàn kết trong nước tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn dân”, còn “sự đoàn kết quốc tế, đề cao chủ nghĩa đa phương sẽ tạo ra sức mạnh toàn cầu”.

Bí quyết tạo nên sức mạnh của Việt Nam chính là khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong tổng thể sức mạnh ấy, đối ngoại Việt Nam luôn gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, kinh tế và văn hóa để thực hiện nhiệm vụ phát triển đất nước, đồng thời góp phần nâng cao vị thế quốc gia. Thông qua những chiến lược linh hoạt, sáng tạo, ngoại giao Việt Nam đã góp phần giữ vững độc lập, tự chủ, không để đất nước rơi vào thế bị động hay phụ thuộc trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc.

Tựu trung, ngày nay, Việt Nam không chỉ là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế mà còn là cầu nối quan trọng cho hòa bình và phát triển bền vững. Một trong những yếu tố làm nên thành công đó chính là niềm tin mà thế giới dành cho sự chân thành của Việt Nam. Niềm tin ấy sẽ tiếp tục được vun đắp trên những giá trị phổ quát của nhân loại cùng truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: đoàn kết, thủy chung và nhân nghĩa.

Đại sứ Phan Thúy Thanh

Người kể chuyện trầm tĩnh

Tiến sĩ Đào Ngọc Báu

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Việt Nam, quốc gia từng gắn với hình ảnh chiến tranh và nghèo đói, ngày nay đang hiện lên như một nền kinh tế năng động, một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và một đối tác ngày càng được coi trọng trong các tính toán chiến lược khu vực. Từ “tự cường để tồn tại” giữa bom đạn và bao vây, Việt Nam bước vào kỷ nguyên “tự cường bằng thế và lực mới”, với nền tảng phát triển vững chắc hơn, vị thế quốc tế cao hơn và tầm nhìn dài hạn hơn.

Trong hành trình ấy, ngoại giao Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ góp phần bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, mà còn tham gia định hình và truyền tải câu chuyện về một Việt Nam tự chủ và tự cường, linh hoạt mà nhất quán, biến thách thức thành cơ hội hợp tác cùng phát triển. Và rồi, giữa nhịp điệu gấp gáp của thế giới hôm nay, hai tiếng “Việt Nam” xuất hiện nhiều hơn trong các cuộc đối thoại, trong những chuyến thăm cấp cao, trong những diễn đàn đa phương nơi các quốc gia cùng bàn về tương lai. Ở đó, ngoại giao hiện ra như một người kể chuyện trầm tĩnh bằng những cái bắt tay, những bản thỏa thuận, ngoại giao đang kết nối quá khứ và hiện tại, dùng ngôn ngữ đối thoại và hợp tác để kể lại hành trình tự cường của đất nước, về một Việt Nam sẽ đi xa hơn trên con đường phát triển của mình.

Ngoại giao kể câu chuyện tự cường bằng “thế mới” thông qua việc kiên trì mở rộng và làm sâu sắc mạng lưới quan hệ. Những khuôn khổ đối tác được thiết lập, những cấp độ hợp tác được nâng lên theo thời gian không chỉ là dấu mốc trong quan hệ song phương, mà còn là những điểm nhấn cho thấy Việt Nam đã trở thành một đối tác quan trọng hơn trong tính toán chiến lược của nhiều quốc gia. Trong từng bước đi, ngoại giao cố gắng giữ sự hài hòa, vừa đa dạng hóa quan hệ, vừa bảo đảm rằng mỗi mối quan hệ đều dựa trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau và lợi ích cùng chia sẻ. Câu chuyện tự cường ở đây là càng mở rộng quan hệ đối tác, càng phải giữ vững bản sắc và lợi ích quốc gia.

“Thế mới” của Việt Nam cũng thể hiện rõ trong các tổ chức quốc tế. Tại các diễn đàn từ ASEAN đến Liên hợp quốc, Việt Nam không còn là một thành viên ít được chú ý, mà là một tiếng nói thường xuyên gắn với những giá trị nhất quán như tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đề cao vai trò của các quốc gia vừa và nhỏ trong trật tự dựa trên luật lệ. Những trọng trách từng đảm nhiệm từ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an đến việc chủ trì nhiều hội nghị quốc tế đã tạo điều kiện để Việt Nam thể hiện “thế mới” của một quốc gia tham gia định hình luật chơi, mà không chỉ thích nghi với luật chơi do người khác đặt ra.

Trên khía cạnh này, câu chuyện “Việt Nam tự cường bằng thế mới” mà ngoại giao kể với thế giới chính là một đất nước với chỗ đứng ngày càng ổn định, mạng lưới quan hệ ngày càng rộng rãi, tiếng nói ngày càng có trọng lượng nhưng vẫn giữ cho mình sự chừng mực, nhất quán và khả năng nói “không” trước những sức ép đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó không phải là câu chuyện đi tìm một tầng cao để đứng riêng, mà là câu chuyện tìm ra vị trí phù hợp trong cấu trúc chung, đủ để Việt Nam có thể tự tin lựa chọn con đường phát triển của mình.

Nếu “thế mới” cho thấy Việt Nam đứng ở đâu trong đời sống quốc tế, thì “lực mới” lại trả lời câu hỏi Việt Nam có gì trong tay để tự tin bước tiếp. Ở đây, ngoại giao không chỉ nói về vị trí, mà còn kể về sức sống bên trong của một đất nước đang chuyển mình về sức mạnh kinh tế, sức bật xã hội, trí tuệ con người và khát vọng phát triển. Những câu chuyện ấy giúp bạn bè quốc tế hiểu rằng tự cường của Việt Nam hôm nay không còn là tự cường trong thiếu thốn, mà là tự cường trong kiến tạo tương lai.

Trước hết, ngoại giao kể câu chuyện về một nền kinh tế đang tự tạo “lực mới” cho mình. Từ chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh… đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường kết nối vùng miền, tất cả tạo nên một câu chuyện phát triển nhất quán, nhấn mạnh Việt Nam không chỉ mong muốn lớn về quy mô, mà còn hướng đến bền về chất lượng, để mỗi bước tiến đều là một bước củng cố thêm khả năng tự chủ.

Một phần quan trọng của “lực mới” là sức mạnh mềm văn hóa, giá trị, cách ứng xử. Ngoại giao văn hóa, đối ngoại nhân dân, các chương trình giao lưu học thuật, nghệ thuật, thể thao… là những kênh để Việt Nam giới thiệu bản sắc của một nền văn hóa có bề dày lịch sử nhưng rất hiện đại, một xã hội coi trọng hòa khí, nghĩa tình, tôn trọng luật lệ, hiệu quả, minh bạch.

Tiến sĩ Đào Ngọc Báu

Ngoại giao còn kể câu chuyện tự cường bằng “lực mới” qua chính khát vọng của Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xây dựng nền kinh tế xanh, bao trùm, phát triển dựa trên tri thức. Ngoại giao góp phần đưa những khát vọng đó ra thế giới, không phải để khoe tham vọng, mà để tìm điểm gặp giữa khát vọng của Việt Nam và lợi ích, trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế, đồng thời gửi thông điệp rằng chúng tôi muốn đi xa hơn, và trên con đường đó, chúng tôi muốn cùng bạn bè chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực cũng như trách nhiệm.

Trong cảm nhận của nhiều người, hành trình của Việt Nam giống một dòng sông từng đi qua nhiều khúc quanh nhưng vẫn kiên trì tìm đường ra biển lớn. Ngày hôm nay, dòng chảy ấy mang theo “thế mới” - là vị trí ngày càng rõ trong đời sống quốc tế, và “lực mới” - là sức sống được bồi đắp từ kinh tế, xã hội, văn hóa và con người. Trong dòng chảy đó, ngoại giao như một người kể chuyện trầm tĩnh, vừa bước đi vừa xây thêm những nhịp cầu kết nối, những cam kết cùng hướng tới ổn định và phát triển. Bằng ngôn ngữ hòa bình và hợp tác, ngoại giao dệt nên câu chuyện tự cường của Việt Nam, với thế và lực mới để đồng hành xa hơn cùng bạn bè trên con đường hướng tới một tương lai hòa bình, thịnh vượng.

Nội dung: Hà Phương; thiết kế: Lim Dim; Nguồn ảnh: TGVN, TTXVN, VGP…

TIN LIÊN QUAN















































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ