🔍
Chuyên mục: Thời sự

Chủ động kiến tạo không gian phát triển trong thế giới nhiều biến động

1 giờ trước
Thế giới đang trải qua những chuyển động mang tính thời đại. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đứng trước cả những cơ hội lớn lẫn những thách thức chưa từng có. Điều quan trọng không chỉ là thích ứng với sự thay đổi, mà còn phải chủ động kiến tạo môi trường thuận lợi để phát triển, đưa đất nước bước lên một tầm cao mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế, tại Trụ sở Trung ương Đảng, ngày 30/6. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Cơ hội và thách thức đan xen

Thế giới hiện nay đang biến động rất nhanh và rất sâu sắc. Có thể nói, chúng ta đang chứng kiến những chuyển động mang tính thời đại với những bước chuyển vô cùng lớn.

Biểu hiện rõ nét nhất là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, tạo ra những tác động sâu rộng đối với trật tự thế giới. Cùng với đó, thế giới đang hình thành những mô hình phát triển mới, trong đó các động lực tăng trưởng tương lai chắc chắn sẽ dựa trên chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và cuộc cách mạng thông tin.

Một xu hướng khác cũng rất đáng chú ý là trong khi các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau thông qua toàn cầu hóa thì lòng tin chiến lược lại chịu nhiều sức ép bởi sự phân mảnh kinh tế, đứt gãy chuỗi cung ứng và những chia rẽ về chính trị. Những yếu tố đó đang làm cho môi trường quốc tế trở nên phức tạp và khó dự báo hơn trước.

Nhìn từ góc độ phát triển, đây là thời điểm mà cơ hội và thách thức không còn tồn tại như hai phạm trù tách biệt. Cơ hội và thách thức đan xen với nhau, buộc mỗi quốc gia muốn tận dụng được cơ hội phải đủ năng lực đối diện và vượt qua những thách thức đặt ra.

Động lực tăng trưởng và mô hình phát triển mới đều dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Nếu không bắt kịp xu hướng này, đó sẽ là một thách thức rất lớn; ngược lại, nếu tận dụng được, đây sẽ là nền tảng để tạo ra những đột phá trong phát triển.

Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao. (Ảnh: Thành Long)

Bên cạnh đó, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tình trạng phân mảnh địa chính trị cũng đang làm thay đổi quá trình tập hợp lực lượng trên thế giới. Trong bối cảnh đó, việc duy trì quan hệ với tất cả các đối tác, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ cả mục tiêu an ninh và phát triển trở thành yêu cầu ngày càng khó khăn đối với mọi quốc gia.

Đối với Việt Nam, chúng ta đang có những điều kiện thuận lợi để tranh thủ cơ hội và ứng phó với các thách thức.

Sau bốn thập kỷ đổi mới, thế, lực và tầm của đất nước đã được nâng lên rõ rệt. Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới và duy trì quan hệ tốt với tất cả các đối tác quan trọng hàng đầu của thế giới cũng như của Việt Nam. Nền kinh tế cũng đã có bước phát triển đáng kể, tạo điều kiện để đất nước tranh thủ tốt hơn các cơ hội và hướng tới một nấc phát triển mới.

Đồng thời, đây cũng là thời điểm Việt Nam đang thực hiện sự chuyển đổi về mặt chiến lược. Một hệ thống các chiến lược phát triển cho thời đại mới, kỷ nguyên mới đang từng bước được hoàn thiện, tạo ra tầm nhìn mới về phát triển, về môi trường an ninh cũng như về đối ngoại. Đó chính là những định hướng lớn cho quá trình phát triển của đất nước trong thời gian tới.

Thế giới sẽ còn tiếp tục biến động sâu sắc, với những chuyển động mang tính thời đại ngày càng phức tạp. Nhưng Việt Nam hôm nay đã có một vị thế mới. Vì vậy, thay vì chờ đợi cơ hội, chúng ta phải chủ động kiến tạo. Thế giới không chờ từng quốc gia để mang cơ hội đến; mỗi quốc gia đều phải tự tạo dựng môi trường thuận lợi nhất cho chính mình để phát triển.

Ngoại giao - Động lực kiến tạo phát triển

Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi sâu sắc, ngoại giao Việt Nam càng đứng trước những yêu cầu đổi mới rất căn bản.

Trước hết, đó là đổi mới tư duy chiến lược về phát triển đất nước, trong đó có tư duy về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Những định hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã xác định rất rõ mục tiêu xây dựng một Việt Nam thịnh vượng và hùng cường dựa trên mô hình tăng trưởng mới, với động lực là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây chính là nền tảng để xác định phương hướng phát triển của đối ngoại trong giai đoạn mới.

Song song với đó, đối ngoại phải góp phần tạo dựng môi trường chiến lược thuận lợi cho hòa bình, ổn định và an ninh của đất nước, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Sau bốn thập kỷ hội nhập quốc tế, Việt Nam đã hình thành được một hệ thống liên kết kinh tế và chuỗi cung ứng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của đất nước. Cùng với đó là vị thế ngày càng được nâng cao thông qua việc tham gia tích cực vào các cơ chế và hoạt động quốc tế. Đây là những nền tảng rất quan trọng để đối ngoại tiếp tục được nâng tầm.

Đối ngoại phải bắt kịp tư duy đổi mới và phát triển của đất nước. Việt Nam không chỉ tiếp tục hội nhập mà phải hội nhập ở trình độ cao hơn.

Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục củng cố không gian phát triển và các chuỗi cung ứng mà Việt Nam đã tham gia; đồng thời mở rộng thêm những không gian hợp tác mới. Những bước tiến gần đây trong quan hệ với Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh cho thấy dư địa hợp tác của Việt Nam vẫn còn rất lớn.

Quan trọng hơn, Việt Nam cần tham gia vào những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do là một lợi thế rất lớn, nhưng vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để khai thác các FTA đó ở những nấc thang phát triển cao hơn.

Bên cạnh đó, chuyển giao khoa học, công nghệ phải trở thành một trọng tâm của đối ngoại trong giai đoạn mới. Chỉ khi tiếp cận được những công nghệ tiên tiến, Việt Nam mới có thể tạo ra những động lực tăng trưởng mới và nâng cao chất lượng phát triển.

Một yêu cầu khác cũng hết sức quan trọng là bảo đảm tính bền vững và khả năng chống chịu của các chuỗi cung ứng trước những biến động của cạnh tranh chiến lược, địa chính trị hay các cú sốc từ kinh tế thế giới. Những kinh nghiệm ứng phó với các cuộc khủng hoảng gần đây, đặc biệt liên quan đến năng lượng và chuỗi cung ứng ở Trung Đông, đều cho thấy đây là bài học có ý nghĩa lâu dài đối với Việt Nam.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Bộ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, ngày 11/6. (Ảnh: Thành Long)

Để đáp ứng những yêu cầu đó, đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại cũng cần có sự chuyển biến mạnh mẽ:

Đầu tiên, cần nắm vững tư duy chiến lược mới về đối ngoại của Việt Nam trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Thứ hai, cần nhận thức rõ rằng đối ngoại ngày nay không chỉ thực hiện chức năng đối ngoại theo nghĩa truyền thống mà đã trở thành một bộ phận kiến tạo những động lực cho tăng trưởng và phát triển, đồng thời kiến tạo môi trường an ninh thuận lợi cho đất nước. Điều đó đòi hỏi người làm đối ngoại phải trực tiếp góp phần hiện thực hóa những mục tiêu phát triển đó.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ đối ngoại phải chủ động tiếp cận khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo ra những động lực phát triển mới. Người làm đối ngoại hiện nay không chỉ cần nắm vững các vấn đề quốc tế mà còn phải hiểu sâu những lĩnh vực chuyên ngành liên quan đến phát triển.

Đối ngoại đang được đặt ở một vị thế mới. Các nghị quyết gần đây của Đảng đã xác định đối ngoại không chỉ là lĩnh vực tiên phong mà còn là trọng yếu, thường xuyên. Đây là sự thay đổi rất quan trọng về tư duy.

Tiên phong có nghĩa là đối ngoại phải đi trước trong nhiều lĩnh vực, từ dự báo tình hình quốc tế, tham mưu chính sách đối với các đối tác, nhận diện sớm những nguy cơ có thể tác động đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước, cho đến thúc đẩy gắn kết giữa ngoại giao với phát triển kinh tế, đặc biệt trong việc tranh thủ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, với vai trò là lĩnh vực trọng yếu, thường xuyên, đối ngoại không thể tách rời quốc phòng, an ninh hay kinh tế. Người làm công tác đối ngoại cần có đủ kiến thức, đủ khả năng kết nối và phối hợp để tham mưu không chỉ cho lĩnh vực đối ngoại mà còn cho các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và kinh tế trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Một yêu cầu mới khác là ngoại giao phải thích ứng với môi trường quốc tế hiện đại. Ngoại giao dựa trên khoa học, công nghệ, ứng dụng AI, công nghệ số và internet không chỉ là đổi mới về phương tiện mà quan trọng hơn là đổi mới về tư duy và phương thức hành động.

Cuối cùng, nền đối ngoại Việt Nam được xây dựng trên ba trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Trung ương và đối ngoại địa phương. Trong giai đoạn mới, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ các trụ cột đó, đặc biệt là hỗ trợ hiệu quả hơn cho cộng đồng doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

Nâng tầm năng lực định hình của đối ngoại Việt Nam

Thế giới đang trải qua những biến động rất sâu sắc. Đồng thời, tầm nhìn về phát triển và bảo đảm an ninh của Việt Nam cũng đã có những thay đổi quan trọng. Cùng với đó, năng lực và vị thế của đất nước sau bốn thập kỷ đổi mới đã được nâng lên rõ rệt. Chính ba yếu tố này đang đặt đối ngoại Việt Nam trước một yêu cầu mới: Không chỉ thích ứng với những biến động của thế giới mà phải chủ động tham gia định hình môi trường đối ngoại theo hướng có lợi cho đất nước.

Điều trước tiên là phải nâng cao năng lực dự báo chiến lược. Nếu trước đây chúng ta chủ yếu ứng phó với những diễn biến của tình hình quốc tế thì ngày nay Việt Nam đã có điều kiện để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới: dự báo sớm các xu hướng, chủ động kiểm soát và quản trị rủi ro, từ đó xoay chuyển cục diện và kiến tạo cơ hội cho phát triển. Đây là bước chuyển rất lớn trong tư duy đối ngoại.

Muốn làm được điều đó, ngành đối ngoại trước hết phải nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo. Trong một thế giới thay đổi nhanh, phức tạp và khó lường, đối ngoại phải kịp thời tham mưu cho đất nước nhận diện đúng những cơ hội và thách thức đang hình thành.

Chẳng hạn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là cạnh tranh Mỹ - Trung, tạo ra sức ép rất lớn đối với nhiều quốc gia, trong đó có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường an ninh và phát triển. Đó là những vấn đề mà đối ngoại phải phát hiện sớm và tham mưu kịp thời.

Nhưng ở chiều ngược lại, chính quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng do cạnh tranh chiến lược cũng mở ra những cơ hội mới để các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào mạng lưới kinh tế toàn cầu. Những cơ hội như vậy cũng cần được nhận diện sớm để có chính sách phù hợp.

Sau bốn thập kỷ đổi mới, thế, lực và tầm của đất nước đã được nâng lên rõ rệt. Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới và duy trì quan hệ tốt với tất cả các đối tác quan trọng hàng đầu của thế giới cũng như của Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Cùng với dự báo là năng lực quản trị rủi ro. Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng dưới tác động của cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị hay các chính sách thuế quan. Thực tiễn thời gian qua cho thấy Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận phù hợp khi vừa tiếp tục duy trì và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác kinh tế lớn, trong đó có Mỹ và Trung Quốc, vừa chủ động đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn cung và các chuỗi cung ứng. Đây là hướng đi cần tiếp tục được thúc đẩy trong thời gian tới.

Một yêu cầu có ý nghĩa chiến lược khác là nâng cao nội lực của nền kinh tế. Nội lực mạnh không chỉ tạo ra sức chống chịu tốt hơn trước các cú sốc từ bên ngoài, từ biến động năng lượng, dầu khí hay đứt gãy nguồn cung, mà còn là điều kiện để nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế.

Chỉ khi phát triển nền kinh tế ở trình độ cao hơn, dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Việt Nam mới có thể tham gia vào những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời thu hút hiệu quả hơn các dòng đầu tư công nghệ từ các tập đoàn quốc tế. Vì vậy, nâng cao nội lực và mở rộng hội nhập là hai quá trình gắn bó chặt chẽ, bổ trợ cho nhau.

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được một mặt bằng phát triển mới. Quy mô và năng lực của nền kinh tế được nâng lên; bộ máy quản lý, điều hành từng bước hoàn thiện; vị thế quốc tế của đất nước ngày càng được khẳng định; đối ngoại Việt Nam cũng chủ động và tự tin hơn trong tham gia các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Tất cả những yếu tố đó tạo điều kiện để Việt Nam tranh thủ tốt hơn các cơ hội từ bên ngoài, đồng thời nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong một thế giới nhiều biến động.

Đặc biệt, Việt Nam hiện đã xây dựng được một mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng khắp với hơn 40 quốc gia trong các khuôn khổ quan hệ khác nhau, từ Đối tác toàn diện đến Đối tác chiến lược toàn diện. Ở cấp độ cao nhất, Việt Nam đều đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với các đối tác chủ chốt, trong đó có cả năm nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Đây là một lợi thế chiến lược rất quan trọng, tạo nền tảng để Việt Nam vừa mở rộng hợp tác, vừa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển đất nước.

Đại sứ Phạm Quang Vinh

TIN LIÊN QUAN

































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ