Thứ trưởng Ngô Lê Văn: Công tác đối ngoại địa phương đã được duy trì và từng bước điều chỉnh theo yêu cầu phát triển

Theo Thứ trưởng Ngô Lê Văn, Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 21 đến nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp; cạnh tranh chiến lược, xung đột, bảo hộ thương mại, điều chỉnh chuỗi cung ứng và các thách thức an ninh phi truyền thống tác động trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đồng thời làm thay đổi phương thức sản xuất, tiêu chuẩn thị trường và nội dung hợp tác quốc tế, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nhân lực, năng lực tiếp nhận công nghệ và khả năng thích ứng của mỗi địa phương.
Ở trong nước, Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu mới đối với công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền làm thay đổi quy mô, địa bàn quản lý, cơ cấu lợi thế và nhu cầu hợp tác của nhiều địa phương.
Trong điều kiện đó, theo Thứ trưởng Ngô Lê Văn, công tác đối ngoại địa phương phải vừa bảo đảm tính liên tục, thống nhất, vừa điều chỉnh nội dung và phương thức triển khai phù hợp với không gian phát triển và tổ chức bộ máy mới.
Nhận thức về vai trò của đối ngoại đối với phát triển từng bước được nâng lên
Từ Hội nghị lần thứ 21 đến nay, công tác đối ngoại địa phương được duy trì trong điều kiện tình hình thế giới biến động và tổ chức bộ máy trong nước có nhiều thay đổi; nhận thức về vai trò của đối ngoại đối với phát triển từng bước được nâng lên; nội dung hoạt động được mở rộng; phối hợp giữa Trung ương và địa phương có chuyển biến.
Trong bối cảnh đó, Thứ trưởng Ngô Lê Văn thông tin, kết quả chủ yếu thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, công tác đối ngoại địa phương được triển khai tương đối đồng bộ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc và củng cố quan hệ với các đối tác.
Các địa phương tiếp tục phối hợp triển khai đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, bám sát đường lối đối ngoại của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và yêu cầu của từng địa bàn. Quan hệ với các đối tác, nhất là các địa phương láng giềng và đối tác truyền thống, được duy trì; giao lưu nhân dân góp phần tăng cường hiểu biết và củng cố nền tảng xã hội cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước.
Trong giai đoạn báo cáo, các địa phương đã ký kết, gia hạn và duy trì hiệu lực trên 900 thỏa thuận quốc tế; chủ trì, cấp phép hoặc cho ý kiến đối với trên 2.500 hội nghị, hội thảo quốc tế. Công tác quản lý đoàn ra, đoàn vào, ký kết và thực hiện thỏa thuận từng bước đi vào nền nếp; việc rà soát nội dung hợp tác và theo dõi sau ký kết được quan tâm hơn.
Tại các địa phương biên giới, hoạt động đối ngoại tiếp tục gắn với quản lý, bảo vệ đường biên, mốc giới, giữ gìn an ninh, trật tự và hợp tác phát triển.
Các văn kiện pháp lý về biên giới với Trung Quốc, Lào và Campuchia được triển khai; quan hệ giữa chính quyền, lực lượng chức năng hai bên, hợp tác cửa khẩu, kết nối hạ tầng và giao lưu nhân dân được duy trì. Một số mô hình cửa khẩu thông minh, cải cách thủ tục và phối hợp quản lý qua biên giới đã được nghiên cứu, triển khai.
Các địa phương ven biển phối hợp tuyên truyền, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế; gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hỗ trợ ngư dân và phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Kết quả đạt được đã góp phần xử lý các vấn đề phát sinh tại địa bàn và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.
Thứ hai, ngoại giao phục vụ phát triển được coi trọng hơn, phạm vi huy động nguồn lực quốc tế từng bước được mở rộng.
Nhiều địa phương đã gắn hoạt động đối ngoại chặt chẽ hơn với thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, phát triển du lịch, tranh thủ công nghệ, tri thức, nhân lực và kinh nghiệm quản trị. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là nguồn lực quan trọng. Bên cạnh số lượng và quy mô dự án, một số địa phương đã quan tâm hơn đến trình độ công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, đào tạo nhân lực và khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Việc thu hút đầu tư trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng và sản xuất xanh bước đầu tạo thêm điều kiện nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của địa phương; tuy nhiên, mức độ lan tỏa và liên kết trong nước còn khác nhau giữa các dự án và địa bàn.
Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường và tham gia chuỗi giá trị được quan tâm. Một số địa phương đã tìm kiếm cơ hội tại thị trường mới, tiếp cận các yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, thương mại số và thị trường Halal. Dù vậy, kết quả còn phụ thuộc nhiều vào năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu và sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển và viện trợ phi chính phủ nước ngoài tiếp tục đóng góp vào giảm nghèo, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Các địa phương đã tiếp nhận trên 1.500 chương trình, dự án và khoản viện trợ. Một số địa phương đã chú trọng lựa chọn chương trình phù hợp với quy hoạch và nhu cầu phát triển, thay cho tiếp nhận các khoản hỗ trợ riêng lẻ.
Hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh được đưa vào chương trình đối ngoại của nhiều địa phương. Việc kết nối với trung tâm nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư và doanh nghiệp công nghệ quốc tế đã hỗ trợ triển khai một số trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, hạ tầng dữ liệu và mô hình sản xuất mới. Tuy vậy, kết quả mới tập trung ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi; năng lực tiếp nhận công nghệ, chất lượng nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp hỗ trợ vẫn là những yếu tố hạn chế hiệu quả hợp tác.
Thứ ba, công tác ngoại giao văn hóa, giáo dục, thông tin đối ngoại, lãnh sự và người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được triển khai gắn với yêu cầu của địa phương.
Ngoại giao văn hóa và công tác UNESCO được gắn với quảng bá hình ảnh, bảo tồn di sản, phát triển du lịch và xây dựng thương hiệu địa phương. Từ cuối năm 2023 đến nay, Việt Nam đã vận động thành công 15 hồ sơ, nâng tổng số danh hiệu, mạng lưới và cơ chế UNESCO tại các địa phương lên 79. Nhiều hoạt động văn hóa đối ngoại được tổ chức gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế và du lịch, góp phần giới thiệu bản sắc và mở rộng giao lưu.
Một số địa phương đã bước đầu kết hợp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và di sản với du lịch bền vững, công nghiệp văn hóa, giáo dục cộng đồng và sinh kế của người dân. Tuy nhiên, kết quả chưa đồng đều; nhiều nơi còn thiếu sản phẩm đặc trưng, năng lực quản lý và cơ chế phối hợp để chuyển các giá trị văn hóa, di sản thành nguồn lực phát triển ổn định, lâu dài.
Hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo được mở rộng thông qua liên kết giữa các cơ sở đào tạo, học bổng, trao đổi chuyên gia, sinh viên và đào tạo nghề. Một số địa phương đã gắn nhu cầu nhân lực với dự án đầu tư và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Công tác thông tin đối ngoại tăng cường sử dụng nền tảng số và thông tin đa ngôn ngữ, song chất lượng sản phẩm còn chênh lệch; một số nội dung vẫn thiên về giới thiệu chung, chưa làm rõ lợi thế riêng và nhu cầu hợp tác cụ thể.
Công tác lãnh sự, bảo hộ công dân và quản lý hoạt động có yếu tố nước ngoài được thực hiện trong điều kiện các vấn đề xuyên biên giới ngày càng đa dạng. Các địa phương đã phối hợp xử lý hàng nghìn vụ việc liên quan đến công dân, ngư dân và người lao động; tham gia giải cứu, tiếp nhận và hỗ trợ các trường hợp gặp khó khăn ở nước ngoài.
Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai theo hướng duy trì gắn kết cộng đồng với quê hương và phát huy nguồn lực kiều bào về tri thức, công nghệ, đầu tư, mạng lưới và quảng bá hình ảnh. Một số địa phương đã hình thành kênh liên hệ với chuyên gia, doanh nhân và hội đoàn; tuy nhiên, việc duy trì kết nối thường xuyên và chuyển sáng kiến thành chương trình hợp tác cụ thể còn hạn chế.

Thứ tư, phối hợp giữa Bộ Ngoại giao, các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và địa phương được tăng cường; năng lực thực hiện từng bước được củng cố.
Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã hỗ trợ địa phương về tham mưu, hướng dẫn, cung cấp thông tin, kết nối đối tác, xúc tiến hợp tác và xử lý vấn đề phát sinh. Từ năm 2024 đến nay, Bộ đã tổ chức 270 đoàn công tác của Lãnh đạo Bộ làm việc tại địa phương dưới các hình thức khác nhau; chủ trì 09 hội nghị kết nối quy mô lớn với gần 2.000 cuộc tiếp xúc; tổ chức hơn 700 hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch và hỗ trợ ký hơn 420 thỏa thuận hợp tác.
Phương thức hỗ trợ từng bước được điều chỉnh theo nhu cầu của địa phương: thông tin được cung cấp theo địa bàn, thị trường; đối tác và doanh nghiệp được kết nối với địa phương để khảo sát; một số hoạt động xúc tiến được gắn với lĩnh vực, dự án cụ thể. Trong giai đoạn 2021 - 2025, các đề án bồi dưỡng đối ngoại địa phương và đối ngoại nhân dân đã tổ chức hơn 120 khóa cho khoảng 12.500 lượt học viên.
Trong quá trình sắp xếp bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các địa phương đã duy trì hoạt động đối ngoại, rà soát hồ sơ hợp tác, xác định cơ quan tiếp nhận nhiệm vụ và điều chỉnh quy chế quản lý. Hiện có 24/34 tỉnh, thành phố có Sở Ngoại vụ, với khoảng 600 cán bộ làm công tác đối ngoại địa phương. Ở những nơi bộ máy ổn định, đầu mối rõ và phối hợp thường xuyên, vai trò tham mưu, quản lý và điều phối của cơ quan ngoại vụ được phát huy tốt hơn.
Ba bài học kinh nghiệm
Bên cạnh kết quả đạt được, Thứ trưởng Ngô Lê Văn thừa nhận, công tác đối ngoại địa phương vẫn còn một số hạn chế kéo dài và những vấn đề mới phát sinh từ yêu cầu hội nhập, sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Trước hết, ở một số nơi, đối ngoại chưa được đặt đầy đủ trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển. Việc lựa chọn đối tác, địa bàn và lĩnh vực còn phân tán; kế hoạch đối ngoại vẫn thiên về danh mục hoạt động hằng năm, thiếu mục tiêu trung hạn và tiêu chí đánh giá kết quả đóng góp đối với phát triển.
Thứ hai, khả năng cụ thể hóa quan hệ và thỏa thuận hợp tác còn hạn chế. Không ít thỏa thuận mới dừng ở nguyên tắc chung, chậm hình thành chương trình, dự án; chưa xác định rõ cơ quan chủ trì, nguồn lực và cơ chế theo dõi. Chất lượng chuẩn bị đề xuất hợp tác ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu về tính cụ thể, khả thi và sức thuyết phục đối với đối tác.
Thứ ba, việc huy động nguồn lực quốc tế chưa tương xứng với tiềm năng và còn chênh lệch giữa các địa phương. Kết quả về đầu tư, thị trường, công nghệ và nhân lực tập trung chủ yếu ở một số địa bàn thuận lợi; việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do, đáp ứng tiêu chuẩn mới về xanh hóa, số hóa và khai thác cơ hội từ các thị trường mới còn hạn chế.
Thứ tư, tổ chức bộ máy, cán bộ và điều kiện bảo đảm ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu. Chức năng đối ngoại còn phân tán; biên chế mỏng, cán bộ kiêm nhiệm; năng lực ngoại ngữ, nghiên cứu, dự báo, xây dựng dự án, đàm phán và vận động nguồn lực còn bất cập. Một số quy định, hướng dẫn chưa được cập nhật kịp thời với mô hình tổ chức và yêu cầu phân cấp, phân quyền.
Thứ năm, phối hợp và chia sẻ thông tin chưa thật sự liên tục. Việc xác định nhu cầu, chuẩn bị đề xuất, tìm kiếm đối tác, triển khai và đánh giá kết quả ở một số trường hợp còn tách rời; đầu mối và trách nhiệm theo dõi chưa rõ. Dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành chưa đồng bộ; số hóa thủ tục, theo dõi thỏa thuận và khai thác dữ liệu phục vụ nghiên cứu, dự báo còn chậm.
Về nguyên nhân của những hạn chế này, Thứ trưởng Ngô Lê Văn đánh giá, khách quan, tình hình thế giới biến động nhanh, cạnh tranh gia tăng, tiêu chuẩn thị trường liên tục thay đổi; trong nước đồng thời triển khai nhiều nhiệm vụ lớn về sắp xếp bộ máy, phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế, làm phát sinh yêu cầu mới về thẩm quyền, phối hợp và năng lực thực hiện.
Chủ quan, nhận thức và mức độ quan tâm đối với công tác đối ngoại chưa đồng đều; một số địa phương chưa chuyển được yêu cầu phát triển thành nhiệm vụ và đề xuất hợp tác cụ thể. Công tác nghiên cứu, dự báo, chuẩn bị dự án, phối hợp liên ngành, theo dõi và đánh giá kết quả còn hạn chế. Nguồn lực dành cho công tác đối ngoại ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.
Từ những hạn chế đó, Thứ trưởng Ngô Lê Văn nêu ba bài học kinh nghiệm. Thứ nhất, sự lãnh đạo thường xuyên của cấp ủy, quản lý thống nhất của chính quyền và vai trò của cơ quan đầu mối là những yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng công tác đối ngoại địa phương.
Thứ hai, chất lượng chuẩn bị quyết định phần lớn hiệu quả hợp tác. Những địa phương xác định rõ nhu cầu, lựa chọn đúng ưu tiên và xây dựng được đề xuất cụ thể thường thuận lợi hơn trong kết nối đối tác và triển khai thỏa thuận.
Thứ ba, hiệu quả đối ngoại phụ thuộc vào phối hợp thường xuyên và theo dõi sau ký kết. Việc phân công rõ trách nhiệm, duy trì trao đổi và kịp thời xử lý vướng mắc giúp bảo đảm tính liên tục và nâng cao kết quả thực hiện.

Tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu, quản lý và tổ chức thực hiện
Bước sang giai đoạn 2026-2028, công tác đối ngoại địa phương tiếp tục bám sát đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị và yêu cầu phát triển của đất nước; tập trung nâng cao chất lượng tham mưu, quản lý và triển khai hoạt động đối ngoại, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của địa phương.
Thứ nhất, nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đối ngoại của địa phương. Rà soát, cập nhật chương trình đối ngoại và hội nhập quốc tế giai đoạn 2026 - 2028 phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức bộ máy sau sắp xếp đơn vị hành chính. Xác định rõ nhiệm vụ, đối tác, địa bàn và lĩnh vực ưu tiên; tập trung nguồn lực cho các hoạt động có tính khả thi và khả năng mang lại kết quả cụ thể.
Tăng cường nghiên cứu, dự báo, tham mưu và theo dõi tình hình quốc tế; kịp thời đề xuất xử lý các vấn đề tác động trực tiếp đến địa phương. Gắn xây dựng chương trình, kế hoạch đối ngoại với điều kiện thực tế và năng lực tổ chức thực hiện.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế. Tiếp tục rà soát các quan hệ, thỏa thuận và cơ chế hợp tác hiện có, nhất là các thỏa thuận được kế thừa sau sắp xếp đơn vị hành chính; tập trung triển khai những nội dung còn tiềm năng, điều chỉnh hoặc xử lý theo quy định đối với những thỏa thuận không còn phù hợp.
Đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, tiếp cận đối tác và tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng. Mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Triển khai đồng bộ ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, công tác người Việt Nam ở nước ngoài và giao lưu nhân dân; phát huy giá trị văn hóa, di sản và thế mạnh đặc thù của từng địa phương trong quảng bá hình ảnh và thúc đẩy hợp tác.
Thứ ba, tăng cường quản lý và phối hợp trong triển khai công tác đối ngoại. Rà soát, hoàn thiện quy chế quản lý và phối hợp hoạt động đối ngoại phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu phân cấp, phân quyền. Xác định rõ cơ quan đầu mối và trách nhiệm của các sở, ngành trong chuẩn bị, tổ chức, theo dõi và đánh giá hoạt động đối ngoại.
Tăng cường phối hợp giữa Bộ Ngoại giao, các bộ, ngành, địa phương và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong cung cấp thông tin, kết nối đối tác, triển khai chương trình hợp tác và xử lý vấn đề phát sinh. Kịp thời tổng hợp các vấn đề liên ngành hoặc vượt thẩm quyền để phối hợp giải quyết.
Thứ tư, củng cố tổ chức, nâng cao năng lực cán bộ và từng bước hiện đại hóa công tác đối ngoại địa phương. Tiếp tục rà soát, kiện toàn cơ quan và đầu mối làm công tác đối ngoại phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng địa phương; bảo đảm thực hiện đầy đủ, liên tục các nhiệm vụ tham mưu, quản lý nhà nước và điều phối hoạt động đối ngoại.
Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; chú trọng kiến thức đối ngoại, hội nhập quốc tế, ngoại giao kinh tế, lễ tân, lãnh sự, ngoại ngữ và kỹ năng số. Tăng cường trao đổi kinh nghiệm, đào tạo tại chỗ và bồi dưỡng theo yêu cầu của từng vị trí việc làm.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý hoạt động đối ngoại; từng bước chuẩn hóa, cập nhật và chia sẻ dữ liệu về đối tác, thỏa thuận, chương trình hợp tác và kết quả thực hiện.
Thứ trưởng Ngô Lê Văn cho rằng, Bộ Ngoại giao tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ địa phương triển khai các nhiệm vụ trên, nhất là trong cung cấp thông tin, đào tạo cán bộ, kết nối đối tác và xử lý vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Thứ trưởng Ngô Lê Văn khẳng định: "Từ Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 21 đến nay, công tác đối ngoại địa phương đã được duy trì và từng bước điều chỉnh theo yêu cầu phát triển. Kết quả đạt được tạo cơ sở để tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu, quản lý và tổ chức thực hiện; đồng thời, những hạn chế về lựa chọn ưu tiên, cụ thể hóa hợp tác, phối hợp, tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ cần được tập trung khắc phục trong giai đoạn tới".
Gia Thành
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
7 giờ trước
10 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
57 phút trước
1 giờ trước
38 phút trước
48 phút trước
56 phút trước
57 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước