Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng thực chất

Trẻ em tương tác với robot tại triển lãm thành tựu Đất nước: “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” (1945 - 2025). Ảnh: Nguyễn Đông
Từ ứng dụng công nghệ đến tạo giá trị
Kinh tế số ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong nhiều năm và vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á về tốc độ phát triển.
Theo Báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain & Company, quy mô kinh tế số Việt Nam năm 2025 ước đạt khoảng 39 tỷ USD. Riêng thương mại điện tử đạt doanh thu tiêu dùng khoảng 13,8 tỷ USD, với 24,3 triệu người mua sắm trực tuyến.
Những con số này cho thấy kinh tế số đã vượt qua giai đoạn hình thành ban đầu. Tuy nhiên, tăng trưởng về quy mô chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của quá trình số hóa. Theo ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương), cần nhìn nhận kinh tế số theo nghĩa rộng hơn, tức bao gồm tất cả những ngành nghề truyền thống đang cố gắng đưa quá trình số hóa và ứng dụng công nghệ, qua đó mở rộng không gian tạo giá trị.

Ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) trao đổi về triển vọng và yêu cầu đổi mới tư duy phát triển kinh tế số. Ảnh: PV
Thực tế, thương mại điện tử giúp doanh nghiệp vượt qua giới hạn địa lý để tiếp cận khách hàng; điện toán đám mây giảm chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ; các nền tảng số tạo ra phương thức kinh doanh mới. Đặc biệt, AI đang trở thành một nguồn lực mới bên cạnh vốn, lao động và công nghệ.
Khảo sát năm 2024 của Microsoft và LinkedIn cho thấy 88% lao động tri thức Việt Nam tham gia khảo sát đã sử dụng AI tạo sinh trong công việc, cao hơn mức 75% của nhóm khảo sát toàn cầu. Tuy nhiên, việc sử dụng AI phổ biến không đồng nghĩa năng suất doanh nghiệp tự động tăng. Theo ông Hồ Đức Thắng, Đại biểu Quốc hội, ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, AI có thể tạo dư địa tăng trưởng qua ba kênh chính: nâng cao năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng và mở ra sản phẩm, thị trường mới.
Khi được tích hợp vào toàn bộ quy trình, AI có thể giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian xử lý, giảm sai sót, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng và chuyển từ cách vận hành phản ứng sang dự báo, cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ.
“Dùng AI là tiếp cận công nghệ; thiết kế lại cách làm mới tạo ra năng suất; đổi mới mô hình kinh doanh mới tạo ra dư địa tăng trưởng”, ông Hồ Đức Thắng nhận định.

Nhiều ngành nghề nỗ lực ứng dụng công nghệ, quá trình số hóa. Trong ảnh: Dây chuyền hàn hoàn thiện body Kia New Carnival tại Trung tâm sản xuất của THACO Auto tại Chu Lai.
Đây cũng là điểm chuyển quan trọng trong tư duy về kinh tế số. Theo Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Bùi Trung Nghĩa, thách thức trung tâm hiện nay không nằm ở tốc độ tăng trưởng mà ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp.
Những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhóm chịu tác động rõ nét từ quá trình chuyển đổi số nhưng cũng gặp nhiều hạn chế nhất về nguồn lực.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, công nghệ ngày càng rẻ và dễ tiếp cận nhưng chi phí chuyển đổi một doanh nghiệp không vì thế giảm tương ứng. Phần khó nằm ở tích hợp hệ thống, thay đổi quy trình, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và đào tạo nhân lực. Chuyển đổi số vì thế không đơn giản là mua một phần mềm hoặc đưa một quy trình lên môi trường trực tuyến.
Để tạo ra năng suất thực chất, doanh nghiệp cần đầu tư tương đối đồng bộ từ dữ liệu, hạ tầng, phần mềm quản trị, tự động hóa đến an ninh mạng và nhân lực. Nếu chỉ có khả năng đầu tư từng phần, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng “số hóa nửa chừng”, phát sinh thêm chi phí nhưng chưa tạo được hiệu quả đủ lớn để nâng năng suất.
Trong khi đó, ông Bùi Trung Nghĩa cho biết, dù nhận thức về chuyển đổi số đã được cải thiện, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận tín dụng để đầu tư công nghệ. Hạn chế về tài chính khiến doanh nghiệp khó đầu tư đồng bộ vào máy móc, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử hay AI.
Đồng thời, cần thu hẹp khoảng cách số giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ, khai thác AI để nâng năng suất, tối ưu chi phí và cải thiện sức cạnh tranh.

Đào tạo nguồn nhân lực tạo nền tảng cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Ảnh: TL
Một nghịch lý khác đang diễn ra: dữ liệu doanh nghiệp ngày càng nhiều nhưng thường phân tán, trùng lặp, thiếu chuẩn hóa, không rõ nguồn gốc hoặc quyền sử dụng. Trong khi đó, hiệu quả của AI phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dữ liệu.
Do đó, lợi thế không thuộc về doanh nghiệp có nhiều dữ liệu nhất mà thuộc về doanh nghiệp có khả năng biến dữ liệu thành tài sản đúng, đủ, sạch, có nguồn gốc, được bảo vệ và sử dụng hợp pháp.
Với nền kinh tế, sự thiếu đồng bộ giữa “hạ tầng cứng” và “hạ tầng mềm” cũng là một điểm nghẽn đáng chú ý. Theo ông Nguyễn Hoa Cương, một giao dịch thương mại điện tử có thể hoàn tất trong vài giây, nhưng nếu hàng hóa mất nhiều ngày để vận chuyển thì tốc độ của toàn bộ chuỗi giá trị vẫn bị giới hạn bởi logistics.
Điều đó cho thấy số hóa chỉ có thể nâng cao hiệu quả một phần chuỗi giá trị nếu những mắt xích còn lại không được nâng cấp. Hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, điện toán, logistics, thanh toán số và an ninh mạng phải phát triển đồng bộ với thể chế, tiêu chuẩn, nhân lực và năng lực thực thi.
Nếu hạ tầng là nền tảng thì thể chế là yếu tố tạo không gian cho kinh tế số phát triển. Khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận chính sách của doanh nghiệp cần được thu hẹp.
Một chính sách dù đúng mục tiêu nhưng nếu doanh nghiệp không biết đến, không đủ nguồn lực để tiếp cận hoặc chi phí thực hiện quá lớn thì hiệu quả cuối cùng vẫn hạn chế.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, đánh giá chính sách không thể chỉ dừng ở việc văn bản đã được ban hành mà phải trả lời câu hỏi: doanh nghiệp có thực sự nhận được lợi ích từ chính sách hay không?
Pháp luật không nên chỉ can thiệp vì một công nghệ được xem là “mới”, mà cần tập trung vào những rủi ro thực tế mà hệ thống pháp luật hiện hành chưa kiểm soát được. Cách tiếp cận này sẽ tạo không gian cho đổi mới sáng tạo thay vì biến quy định pháp luật thành rào cản đối với công nghệ mới.
Ông Bùi Trung Nghĩa cho rằng, chính sách cần linh hoạt hơn, đặc biệt thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những lĩnh vực mới của kinh tế số, đồng thời huy động mạnh hơn nguồn lực tư nhân cho phát triển hạ tầng số và quản trị số.

Khoảnh khắc robot Sophia - công dân người máy đầu tiên trên thế giới - diện áo dài Việt Nam và nở nụ cười tươi tại cuộc họp báo, khi có nhà báo tương tác bằng tiếng Anh: “Smile, Sophia!”. Ảnh: Chi Lê
Với AI, Việt Nam đã từng bước hình thành khung pháp lý chuyên biệt. Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 được ban hành ngày 10.12.2025 và có hiệu lực từ ngày 1.3.2026; Nghị định 142/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1.5.2026. Quyết định 33/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục hệ thống AI có rủi ro cao, có hiệu lực từ ngày 15.8.2026, tiếp tục cụ thể hóa cách tiếp cận quản lý dựa trên mức độ rủi ro.
“Thể chế tốt không nên đặt đổi mới và an toàn ở hai phía đối lập. Mục tiêu là giảm rủi ro và sự bất định để đổi mới diễn ra nhanh hơn, rộng hơn và bền vững hơn”, ông Hồ Đức Thắng nhận định.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu chấp nhận rủi ro hợp lý trong nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Một thể chế tốt không phải là loại bỏ mọi rủi ro, mà là nhận diện, kiểm soát và phân bổ rủi ro một cách hợp lý.
Nâng chất lượng tăng trưởng kinh tế số
Việt Nam đã xác lập mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 cũng đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%, hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số có năng lực ngang tầm các nước tiên tiến và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Từ mức 14,02% năm 2025 lên khoảng 30% vào năm 2030 là bước tiến lớn. Khoảng cách này không thể được lấp đầy chỉ bằng việc gia tăng số lượng người dùng Internet, mở rộng thương mại điện tử hay tăng số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ.
Điều quan trọng hơn là nâng chất lượng số hóa, đưa công nghệ đi sâu vào sản xuất, quản trị và cung ứng dịch vụ; đồng thời hình thành những doanh nghiệp có khả năng làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các doanh nghiệp công nghệ lớn và doanh nghiệp nhà nước cần phát huy vai trò dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Ảnh: Hoàng Giang
Ông Bùi Trung Nghĩa cho biết, doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cần trở thành lực lượng nòng cốt; các doanh nghiệp công nghệ lớn và doanh nghiệp nhà nước cần phát huy vai trò dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với đó, cần thu hút nguồn lực tư nhân vào các dự án hạ tầng số và quản trị số.
Một yếu tố đặc biệt quan trọng là nhân lực. “Việt Nam đang đứng trước bài toán ‘vừa thừa, vừa thiếu’ nhân lực: thừa về số lượng ở một số lĩnh vực nhưng thiếu những người có kỹ năng phù hợp với yêu cầu mới”, ông Nguyễn Hoa Cương nói.
Người lao động trong nền kinh tế số không chỉ cần biết sử dụng AI mà còn phải có khả năng kiểm tra kết quả, nhận diện sai lệch, bảo vệ dữ liệu và xác định thời điểm sử dụng công nghệ phù hợp.
Một doanh nghiệp có thể xuất khẩu với quy mô lớn nhưng nếu chủ yếu sản xuất theo thiết kế, dữ liệu và tiêu chuẩn của đối tác thì phần giá trị giữ lại sẽ khác xa so với doanh nghiệp làm chủ thiết kế, công nghệ, dữ liệu và thương hiệu.
Vì vậy, mục tiêu của kinh tế số không chỉ là giúp doanh nghiệp làm nhanh hơn, mà phải giúp doanh nghiệp làm chủ những khâu tạo ra giá trị cao hơn.
Từ góc nhìn này, chỉ tiêu kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 không nên được nhìn đơn thuần như một mục tiêu về quy mô. Quan trọng hơn là chất lượng của phần giá trị được tạo ra: năng suất doanh nghiệp tăng bao nhiêu, bao nhiêu giá trị gia tăng đến từ dữ liệu và công nghệ, Việt Nam làm chủ được bao nhiêu khâu trong chuỗi giá trị.
Kinh tế số chỉ thực sự trở thành động lực của mô hình tăng trưởng mới khi công nghệ được chuyển hóa thành năng suất, dữ liệu trở thành tài sản, doanh nghiệp làm chủ những khâu tạo giá trị cao hơn và người lao động có đủ năng lực làm việc cùng máy móc.
Ngọc Phạm
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
11 ngày trước
19 ngày trước
20 ngày trước
27 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
25 phút trước
26 phút trước
38 phút trước
1 giờ trước