🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Sửa Luật Điện lực: Khơi thông nguồn lực tư nhân, bảo đảm đồng bộ chính sách

17 giờ trước
Góp ý vào dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, minh bạch, tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, kinh doanh điện; đồng thời tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia thị trường, phát triển năng lượng tái tạo, lưu trữ điện...

Sửa đổi có trọng tâm, tránh phát sinh cơ chế xin - cho

Tham gia thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh: Điện lực là ngành hạ tầng thiết yếu, giữ vai trò nền tảng đối với sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Trong bối cảnh nhu cầu điện ngày càng tăng, việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Quang cảnh phiên thảo luận ở tổ chiều 20-10. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Luật Điện lực được Quốc hội thông qua tháng 11-2024 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho phát triển ngành điện. Tuy nhiên, sau gần 2 năm triển khai, một số quy định đã bộc lộ vướng mắc, bất cập.

Cùng với đó, những định hướng mới về phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện, năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi, hệ thống lưu trữ điện, thị trường điện cạnh tranh, mua bán điện trực tiếp và phát triển điện hạt nhân đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế.

Dù vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội lưu ý dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ quy định liên quan đến 49/81 điều của luật hiện hành, chiếm khoảng 60,5%. Đây là phạm vi sửa đổi lớn trong khi luật mới bắt đầu được thực thi chưa đầy 2 năm, thời gian tổng kết và đánh giá tác động còn hạn chế.

Vì vậy, cơ quan soạn thảo cần rà soát toàn diện, tập trung vào những nội dung thực sự cấp thiết, đã rõ về cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn; hạn chế đưa vào luật những vấn đề mang tính tình thế hoặc chưa được đánh giá tác động đầy đủ.

Đối với nguyên tắc ưu tiên áp dụng Luật Điện lực, ông cho rằng quy định trong dự thảo còn rộng, có thể dẫn đến cách hiểu luật này được ưu tiên áp dụng đối với hầu hết quan hệ phát sinh trong hoạt động điện lực, gây xung đột với pháp luật về đầu tư, đất đai, đấu thầu, xây dựng, lâm nghiệp và các lĩnh vực liên quan.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan soạn thảo cần rà soát toàn diện, tập trung vào những nội dung thực sự cấp thiết, đã rõ về cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, trường hợp cần thiết lập cơ chế đặc thù, dự thảo phải xác định cụ thể phạm vi, đối tượng, điều kiện và thẩm quyền áp dụng. Việc thiết kế chính sách thiếu chặt chẽ có thể tạo cơ chế xin - cho, phát sinh lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và gia tăng nguy cơ xung đột pháp luật.

Minh bạch cơ chế giá điện, phân bổ hợp lý rủi ro

Về cơ chế giá điện, xóa bỏ bù chéo và hỗ trợ tiền điện, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cơ bản đồng tình với nguyên tắc giá điện phản ánh đầy đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ, tạo động lực thu hút đầu tư và từng bước vận hành theo cơ chế thị trường.

Tuy nhiên, theo ông, việc chuyển sang cơ chế giá điện theo thị trường cần đi kèm chính sách hỗ trợ phù hợp. Nếu xóa bỏ bù chéo, Nhà nước cần tính toán nguồn lực ngân sách để hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương, đồng thời có cơ chế điều tiết hợp lý nhằm bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp điện lực.

Ông đề nghị Chính phủ xác định cụ thể nội hàm, phạm vi và lộ trình xóa bỏ bù chéo; phân biệt rõ việc xóa bỏ bù chéo trong cơ chế giá với chính sách hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách hoặc nguồn hợp pháp khác cho hộ nghèo, hộ chính sách và người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đối với quy định Nhà nước bù đắp chi phí hợp lý khi giá điện chưa kịp điều chỉnh, cần làm rõ nguồn kinh phí, chủ thể chịu chi phí, phương thức hạch toán, kiểm toán và hoàn trả. Qua đó, tránh hình thành cam kết tài chính không xác định giới hạn hoặc làm phát sinh nghĩa vụ ngân sách chưa được đánh giá đầy đủ.

Cùng với chính sách giá điện, cơ chế huy động nguồn lực tư nhân đầu tư lưới điện truyền tải cũng cần được thiết kế chặt chẽ. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị quy định rõ điều kiện, phạm vi và giới hạn trách nhiệm của Nhà nước, nhà đầu tư trong thu hồi vốn, lợi nhuận hợp lý, bảo lãnh và chia sẻ rủi ro; bảo đảm thống nhất với pháp luật về đầu tư công và đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Theo ông, nguyên tắc bảo đảm thu hồi chi phí và lợi nhuận hợp lý không đồng nghĩa với việc Nhà nước bảo đảm hiệu quả tài chính của dự án trong mọi trường hợp. Rủi ro phải được phân bổ minh bạch, gắn với trách nhiệm của từng bên, không chuyển bất hợp lý gánh nặng từ doanh nghiệp sang ngân sách nhà nước hoặc người sử dụng điện.

Đối với chính sách phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới và thị trường chứng chỉ năng lượng tái tạo, ông đề nghị làm rõ phạm vi, đối tượng và nguyên tắc áp dụng các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù. Những chính sách liên quan đến thuế, ngân sách, đất đai hoặc làm phát sinh nghĩa vụ tài chính của Nhà nước thuộc thẩm quyền Quốc hội cần được xác định ngay trong luật, không giao quá rộng cho văn bản dưới luật tự xác lập chính sách ưu đãi mới.

Mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia thị trường điện

Đồng tình với sự cần thiết sửa đổi Luật Điện lực nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong đầu tư phát triển ngành điện, đại biểu (ĐB) Vũ Hồng Quân cho rằng cần chú trọng hình thành cơ chế thị trường để doanh nghiệp có thể tham gia, tạo ra giá trị và thu hồi vốn từ những dịch vụ cung cấp cho hệ thống điện.

Theo ĐB Vũ Hồng Quân, chính sách cần chuyển từ tư duy khuyến khích lắp đặt thiết bị sang hình thành thị trường dịch vụ lưu trữ có cơ chế doanh thu rõ ràng, tạo động lực thu hút đầu tư. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhu cầu đầu tư nguồn và lưới điện giai đoạn 2026-2030 khoảng 136,3 tỷ USD, bình quân hơn 27 tỷ USD mỗi năm. Để đáp ứng nhu cầu này, cần huy động mạnh mẽ hơn nguồn lực của kinh tế tư nhân, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa.

ĐB Quân cho rằng bên cạnh các dự án nguồn điện quy mô lớn, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia lĩnh vực năng lượng phân tán, mua bán điện trực tiếp, lưu trữ điện và công nghệ năng lượng.

Về điện tự sản xuất, tự tiêu thụ tại cơ sở sản xuất, ĐB Quân chỉ ra những vướng mắc liên quan đến giấy phép bán lẻ điện khi doanh nghiệp đầu tư thiết bị và bán điện tại chỗ. Ranh giới giữa hợp đồng cho thuê thiết bị, dịch vụ năng lượng với hoạt động kinh doanh bán điện chưa rõ, khiến hợp đồng của doanh nghiệp khó được ngân hàng chấp nhận làm cơ sở cho vay.

Từ thực tế này, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung tại Điều 33 nguyên tắc miễn trừ đồng bộ giấy phép phát điện, bán lẻ điện đối với hoạt động bán điện tại chỗ quy mô nhỏ; đồng thời làm rõ ranh giới giữa dịch vụ năng lượng và kinh doanh bán điện. Theo ĐB Quân, đây là giải pháp góp phần khơi thông nguồn vốn xã hội cho các dự án năng lượng tái tạo quy mô nhỏ.

Đối với cơ chế mua bán điện trực tiếp tại Điều 47, đại biểu đề nghị cho phép đơn vị bán lẻ điện đủ điều kiện tổng hợp nhu cầu mua điện của nhiều doanh nghiệp để cùng tham gia thị trường với quy mô phù hợp. Cách tiếp cận này sẽ hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu sử dụng điện sạch để đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu nhưng chưa đủ quy mô để tự tham gia.

Bên cạnh đó, chi phí sử dụng lưới truyền tải, phân phối và dịch vụ hệ thống cần được xác định theo phương pháp công khai, minh bạch, không thu trùng và không chuyển chi phí bất hợp lý sang khách hàng khác. Quy định về quyền của khách hàng trong khu, cụm công nghiệp cũng cần được làm rõ.

Hình thành thị trường dịch vụ lưu trữ điện và công nghệ năng lượng

Một nội dung được ĐB Vũ Hồng Quân quan tâm là phát triển thị trường dịch vụ lưu trữ điện độc lập. Theo đại biểu, quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 có 10.000-16.300 MW pin lưu trữ, bố trí không chỉ kết hợp với nguồn năng lượng tái tạo mà còn trên hệ thống điện, tại các trung tâm phụ tải. Trong khi đó, danh mục hiện nay mới đạt khoảng 300 MW.

Dự thảo đã bổ sung quy định về lưu trữ, giấy phép và giá dịch vụ lưu trữ, nhưng khoản 3 Điều 20 mới cho phép đầu tư hệ thống lưu trữ kết hợp với dự án nguồn điện. Cơ chế kinh doanh đối với hệ thống lưu trữ độc lập chưa được xác lập rõ, khiến doanh nghiệp chưa xác định được dịch vụ có thể cung cấp, đối tượng mua và phương thức thanh toán.

ĐB Quân đề nghị bổ sung tại Điều 20 nguyên tắc cho phép đầu tư, vận hành hệ thống lưu trữ độc lập, không nhất thiết gắn với một dự án nguồn điện, trên cơ sở đáp ứng các điều kiện kỹ thuật và an toàn hệ thống.

Đồng thời, tại Điều 51, cần làm rõ cơ sở xác định giá và thanh toán dịch vụ lưu trữ theo khả năng sẵn sàng cung cấp công suất và dịch vụ thực tế được sử dụng. Đơn vị điện lực cũng cần được phép mua dịch vụ lưu trữ hoặc điều chỉnh phụ tải khi chứng minh được hiệu quả tốt hơn phương án đầu tư thêm hạ tầng.

Theo đại biểu, chính sách cần chuyển từ tư duy khuyến khích lắp đặt thiết bị sang hình thành thị trường dịch vụ lưu trữ có cơ chế doanh thu rõ ràng, tạo động lực thu hút đầu tư.

Đối với chính sách khuyến khích khoa học, công nghệ tại khoản 1a Điều 8, ĐB Quân đánh giá cao định hướng của dự thảo, nhưng cho rằng vẫn còn khoảng cách lớn từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Những giải pháp như đo đếm thông minh, dự báo phụ tải, quản lý năng lượng trong nhà xưởng, điều phối lưu trữ và giảm tổn thất điện năng có thể giúp khai thác hiệu quả hơn nguồn lực sẵn có của hệ thống.

Tuy nhiên, doanh nghiệp công nghệ chỉ có động lực đầu tư khi sản phẩm, dịch vụ được thử nghiệm, đánh giá, mua sắm và thanh toán. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế mua sản phẩm, dịch vụ công nghệ theo kết quả đầu ra, chẳng hạn mức giảm tổn thất điện năng hoặc giảm công suất đỉnh, với phương pháp kiểm chứng phù hợp.

Cùng với đó, cần nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại các khu, cụm công nghiệp kết hợp điện mặt trời mái nhà, lưu trữ và quản lý phụ tải; làm rõ việc công bố dữ liệu phù hợp về phụ tải, khả năng tiếp nhận của lưới điện để doanh nghiệp phát triển giải pháp sát nhu cầu thực tế.

MAI LÂM

TIN LIÊN QUAN



















































Home Icon VỀ TRANG CHỦ