🔍
Chuyên mục: Quản lý - Quy hoạch

Giá điện phải minh bạch, không dồn rủi ro sang người sử dụng

4 giờ trước
Thảo luận ở tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực chiều nay (20/10), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ cơ chế xác định giá điện, bù đắp chi phí và lộ trình xóa bỏ bù chéo. Bên cạnh yêu cầu tháo gỡ vướng mắc đầu tư, các ý kiến nhấn mạnh việc kiểm soát chi phí, bảo đảm quyền lợi người sử dụng điện và tính ổn định của chính sách.

Thảo luận ở Tổ 11 Thái Nguyên - Quảng Ngãi - Khánh Hoà chiều 20/10/2026 (Ảnh QH)

Bù đắp chi phí điện phải có cơ chế kiểm soát

Tại phiên thảo luận tổ về các dự án luật, đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) dành sự quan tâm đến chính sách xóa bỏ bù chéo giá điện, cơ chế bù đắp chi phí và hỗ trợ tiền điện được đề xuất trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.

Theo đại biểu, khoản 3 Điều 1 dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 5 Luật Điện lực đã đề cập nguyên tắc xác định giá điện, cơ chế bù đắp chi phí hợp lý khi giá bán điện chưa kịp điều chỉnh nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội và chính sách hỗ trợ tiền điện.

Đại biểu đánh giá những quy định này có thể đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển thị trường điện cạnh tranh. Tuy nhiên, việc bù đắp chi phí khi giá điện chưa được điều chỉnh kịp thời cần có những quy định cụ thể hơn.

Đặc biệt, đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí xác định chi phí hợp lệ, thời hạn phân bổ cùng cơ chế kiểm toán, giám sát, tránh chuyển toàn bộ rủi ro kinh doanh sang khách hàng sử dụng điện.

Một vấn đề khác được đại biểu Lê Thị Ngọc Linh nhấn mạnh là phải tách biệt cơ chế bù đắp chi phí trong giá điện với chính sách hỗ trợ tiền điện. Theo đó, dự thảo cần xác định cụ thể đối tượng được hỗ trợ, nguồn kinh phí, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình thực hiện.

Đối với lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện, đại biểu đề nghị triển khai từng bước, có đánh giá tác động đến hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách, người thu nhập thấp và doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.

Đồng thời, cần giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế thực hiện, công khai phương pháp tính toán và kết quả phân bổ chi phí, bảo đảm tính minh bạch, khả thi, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp điện lực và người dân.

Cùng quan tâm đến vấn đề này, một đại biểu tại tổ thảo luận khác đề nghị thể chế hóa rõ nguyên tắc giá điện vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, được quy định tại Điều 5 và Điều 51.

Đại biểu cho rằng cần xác định rõ nguồn kinh phí và trách nhiệm xử lý phần chi phí chưa được thu hồi khi giá điện chưa kịp điều chỉnh, đồng thời xây dựng lộ trình giảm dần, tiến tới xóa bỏ bù chéo giá điện.

Đối với những dự án điện quy mô lớn như điện khí LNG, điện gió ngoài khơi và thủy điện tích năng, đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế giá công suất và phân bổ rủi ro trong hợp đồng mua bán điện dài hạn.

Ở góc độ sản xuất nông nghiệp, một số đại biểu khác phản ánh việc điều chỉnh khung giờ cao điểm giá điện sang buổi tối và ban đêm đã khiến chi phí điện phục vụ một số hoạt động sản xuất tăng mạnh.

Theo phản ánh của đại biểu, chi phí điện cho thắp sáng thanh long, rau quả và bơm nước phục vụ thủy sản có trường hợp tăng gần gấp ba lần, ảnh hưởng lớn đến đời sống nông dân.

Từ thực tế được nêu, đại biểu đề nghị rà soát Điều 50 Luật Điện lực, phân loại giá điện phục vụ sản xuất nông nghiệp riêng biệt với công nghiệp nặng, đồng thời bảo đảm tính ổn định của cơ chế điều chỉnh khung giờ giá điện.

Đấu thầu xong không đàm phán lại giá điện

Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là việc lựa chọn nhà đầu tư dự án điện lực và quá trình đàm phán hợp đồng mua bán điện.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Cà Mau) đề nghị các trường hợp lựa chọn nhà đầu tư không thông qua đấu thầu, quy định tại Điều 18, phải được xác định bằng những tiêu chí khách quan.

Đối với các dự án thực hiện đấu thầu theo Điều 19, đại biểu đề nghị khẳng định nguyên tắc không đàm phán lại giá điện và thời hạn hợp đồng đã được xác lập thông qua kết quả đấu thầu.

Trong khi đó, một số đại biểu đề cập tình trạng kéo dài thời gian đàm phán hợp đồng mua bán điện, ảnh hưởng đến quá trình triển khai các dự án năng lượng.

Theo số liệu đại biểu nêu tại phiên thảo luận, khoảng 70-80% dự án năng lượng thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời lựa chọn nhà đầu tư không có giá trúng thầu, nên phải đàm phán giá điện với EVN, có trường hợp kéo dài từ hai đến ba năm.

Đại biểu kiến nghị bổ sung tại Điều 51 quy định giao Chính phủ xác định cụ thể thời hạn kiểm tra hồ sơ, đàm phán, phản hồi và cơ chế giải quyết khi các bên không đạt được sự đồng thuận.

Đối với việc tính toán khung giá điện, một số đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí giải phóng mặt bằng, hỗ trợ chuyển đổi nghề và đền bù hành lang an toàn điện gió.

Bên cạnh đó, dự thảo cần quy định cơ chế chia sẻ chi phí hạ tầng đấu nối dùng chung giữa các dự án điện gần nhau. Việc phân bổ có thể căn cứ vào công suất, thời điểm kết nối và cơ chế hoàn trả cho nhà đầu tư ban đầu.

Một vấn đề khác được đại biểu đặt ra là tính ổn định của chính sách pháp luật đối với lĩnh vực có quy mô vốn đầu tư lớn và thời gian khai thác kéo dài.

Theo đại biểu, các dự án điện khí LNG có thể cần vốn đầu tư hơn hai tỷ USD, thời gian vận hành từ 20 đến 25 năm. Vì vậy, chính sách pháp luật cần bảo đảm tính ổn định dài hạn, với khoảng thời gian được đại biểu đề xuất là từ 5 đến 10 năm.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát các quy định của dự thảo để bảo đảm đồng bộ với Nghị quyết số 253 của Quốc hội.

Liên quan đến tổ chức thị trường điện, đại biểu Đinh Ngọc Minh (Cà Mau) đề nghị xác định thời điểm cụ thể phải hoàn thành xây dựng thị trường điện cạnh tranh, chẳng hạn đến năm 2030.

Đại biểu dẫn số liệu cho rằng EVN hiện nắm dưới 35% khâu phát điện, trong khi các doanh nghiệp bên ngoài chiếm khoảng 65-70%. Tuy nhiên, ở khâu mua điện và truyền tải, phân phối, theo đại biểu, EVN vẫn nắm toàn bộ.

Từ thực trạng được phản ánh, đại biểu Đinh Ngọc Minh đề nghị nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về chia tách các tập đoàn truyền tải, phân phối điện để thực hiện nguyên tắc không độc quyền doanh nghiệp.

Đơn giản hóa thủ tục nhưng không tạo khoảng trống quản lý

Bên cạnh chính sách giá điện, các đại biểu dành nhiều ý kiến cho việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư và bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Điện lực với những luật có liên quan.

Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh đề nghị quy định rõ cơ chế phối hợp, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của các cơ quan khi áp dụng cơ chế miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và chuyển mục đích sử dụng rừng.

Theo đại biểu, việc đơn giản hóa phải tránh phát sinh thủ tục trung gian hoặc tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Đối với dự án điện lực cấp bách, cần có tiêu chí xác định cụ thể, đồng thời kiểm soát chất lượng, an toàn công trình và trách nhiệm giải trình.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Điện lực với Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường và pháp luật về xây dựng.

Trong đó, cần xác định rõ quy định nào được thay thế, quy định nào vẫn phải thực hiện, tránh chồng chéo hoặc lặp lại các điều kiện chuyên ngành.

Cùng quan điểm phải bảo đảm tính thống nhất pháp luật, đại biểu Phan Chí Hiếu (Cà Mau) đề nghị thiết kế lại quy định về áp dụng pháp luật tại Điều 3 dự thảo.

Theo đại biểu, quy định ưu tiên áp dụng Luật Điện lực đối với thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư có thể phát sinh vướng mắc khi Luật Đầu tư cũng quy định nguyên tắc ưu tiên áp dụng.

Vì vậy, đại biểu kiến nghị liệt kê cụ thể những loại dự án đầu tư điện lực được ưu tiên áp dụng Luật Điện lực, thay vì quy định chung có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh đề nghị làm rõ điều kiện duy trì hoạt động điện lực, tập trung vào an toàn kỹ thuật, năng lực vận hành và chất lượng dịch vụ; đồng thời xác định tiêu chí hậu kiểm đối với những trường hợp được miễn giấy phép.

Đối với việc ngừng, giảm cung cấp điện theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, đại biểu kiến nghị quy định chặt chẽ căn cứ pháp luật, phạm vi thẩm quyền, thời hạn áp dụng, cơ chế giải quyết khiếu nại và bồi thường thiệt hại nếu việc ngừng điện trái quy định.

Một đại biểu khác đề nghị làm rõ điều kiện áp dụng cơ chế chấp thuận nhà đầu tư thay cho chấp thuận chủ trương đầu tư, đặc biệt đối với các yêu cầu liên quan đến đất đai, rừng, môi trường, quốc phòng và an ninh.

Đối với đầu tư lưới điện truyền tải theo phương thức đối tác công tư, đại biểu đề nghị xác định cơ chế thu hồi chi phí thông qua giá dịch vụ truyền tải và phương thức thanh toán gắn với mức độ sẵn sàng của lưới điện.

Với các dự án điện gió ngoài khơi, ý kiến thảo luận đề nghị rà soát sự thống nhất với pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học, đất đai và đầu tư; đồng thời xử lý xung đột giữa không gian phát triển điện gió và hành lang vận tải hàng hải.

Một số đại biểu cũng kiến nghị bổ sung khung pháp lý đối với hoạt động đầu tư, phát triển điện gió trên đảo nhân tạo.

Riêng về cải cách thủ tục, đại biểu Đinh Ngọc Minh đề nghị bãi bỏ thủ tục chấp thuận, xác nhận kết quả nghiệm thu công trình hoàn thành của chủ đầu tư và nhà thầu được nêu tại phiên thảo luận.

Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh nhấn mạnh, việc rút ngắn thời gian xử lý phải đi đôi với xác định rõ trách nhiệm và bảo đảm sự thống nhất giữa các luật. Theo đại biểu, không nên chỉ miễn một thủ tục mà khiến những khâu liên quan thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra.

Quốc Tuấn

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ