🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Sẵn sàng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số

7 giờ trước
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động phức tạp và rủi ro gia tăng, tăng trưởng kinh tế quý 2/2026 và 6 tháng năm 2026 cho thấy những tín hiệu lạc quan của nền kinh tế Việt Nam. Đây là nền tảng vững chắc để nền kinh tế sẵn sàng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mà Quốc hội đã đặt ra.

Số liệu GDP quý 2/2026 và 6 tháng đầu năm 2026 vừa công bố cho thấy mức tăng trưởng khá ấn tượng. Theo bà, đâu là những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua?

Có thể khẳng định, kết quả tăng trưởng GDP quý 2/2026 và 6 tháng đầu năm 2026 là một điểm sáng lớn, phản ánh xu hướng phục hồi mạnh mẽ và tính ổn định cao của kinh tế Việt Nam. Tiếp tục đà tăng trưởng từ quý 1/2026, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 2/2026 đạt mức tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn 0,25 điểm phần trăm so với mức tăng 8,14% của quý 2/2025.

Tính chung nửa đầu năm, GDP tăng 8,18%, bứt phá rõ rệt so với mức tăng 7,63% của 6 tháng đầu năm 2025. Đây là thành quả vô cùng ấn tượng nếu đặt trong bối cảnh tổng cầu thế giới phục hồi chậm, bảo hộ thương mại gia tăng và các rủi ro địa chính trị chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Sự khởi sắc này được thể hiện đồng đều trên cả ba khu vực kinh tế. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06% trong quý 2/2026 và 3,87% trong 6 tháng; khu vực công nghiệp và xây dựng bứt phá mạnh mẽ với mức tăng lần lượt là 10,51% và 9,81%; khu vực dịch vụ duy trì tốc độ phát triển khá cao, đạt 7,87% và 8,09%.

Để hiểu rõ động lực tăng trưởng, cần phân tích sâu từ cả hai phía: cung (sản xuất) và cầu (tiêu dùng, đầu tư, xuất nhập khẩu).

Nhìn từ phía cung, đó là sự cộng hưởng của ba khu vực.

Trước hết, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục khẳng định vai trò “trụ đỡ” cho nền kinh tế. Nhờ các giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế hiệu quả, kết hợp đồng bộ giữa tiến bộ kỹ thuật và công tác quản lý mã số vùng trồng, năng suất trồng trọt và thủy sản đã có sự bứt phá vượt bậc. Ngành chăn nuôi và lâm nghiệp cũng giữ vững đà phát triển tốt nhờ kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh và mở rộng mô hình an toàn sinh học.

Thứ hai, khu vực công nghiệp và xây dựng chính là động lực tăng trưởng quan trọng nhất. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vững vai trò “đầu tàu” với mức tăng quý 2/2026 là 10,56% và 6 tháng đầu năm là 10,23%, đóng góp lần lượt 2,85 và 2,73 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Diễn biến tích cực này đến từ việc phục hồi mạnh mẽ của các đơn hàng xuất khẩu ở các ngành chủ lực như sản xuất điện tử, máy vi tính, quang học, kim loại và xe có động cơ.

Đặc biệt, ngành khai khoáng ghi nhận quý thứ tư liên tiếp tăng trưởng dương với mức tăng quý 2/2026 đạt 7,59%, chủ yếu nhờ hoạt động khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng mạnh, giúp đảm bảo nguồn cung nguyên liệu trong nước.

Ngành xây dựng cũng tăng tốc mạnh mẽ với mức tăng trưởng ấn tượng 12,28% trong quý 2/2026. Cùng với đó, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt đạt mức tăng 12,19%, hoàn thành tốt vai trò cung ứng năng lượng cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp.

Thứ ba, khu vực dịch vụ dù chịu áp lực lớn từ chi phí giá yếu tố đầu vào tăng, nhiều ngành cốt lõi vẫn giữ được nhịp tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành. Điển hình là ngành bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy (tăng 9,62% trong quý 2/2026 và 9,67% trong 6 tháng đầu năm 2026); vận tải kho bãi (tăng 11,19% và 10,18%); nghệ thuật, vui chơi, giải trí (tăng 10,49% và 10,11%). Ngược lại, một số nhóm ngành như dịch vụ lưu trú, ăn uống (tăng hơn 8,3%) hay tài chính, ngân hàng (tăng gần 8%) vẫn chưa bứt phá mạnh như kỳ vọng; riêng mảng quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng giảm 9,71% trong quý 2/2026 do việc siết chặt, cắt giảm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước (NSNN).

Nhìn từ phía cầu, sức bật từ tích lũy tài sản và tiêu dùng dân cư đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng. Trong đó, cấu trúc tổng cầu trong 6 tháng đầu năm có những chuyển dịch rất đáng chú ý.

Cụ thể, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,02% trong quý 2/2026 và 8,15% trong 6 tháng đầu năm 2026. Trong khi tiêu dùng của Nhà nước giảm mạnh 10,42% trong quý 2 (6 tháng giảm 0,05%) do xu hướng cắt giảm chi tiêu công khu vực hành chính để dồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế trọng điểm.

Trái lại, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình tăng trưởng rất tốt (quý 2 tăng 9,94%, 6 tháng tăng 9,48%), cho thấy sức mua của người dân được cải thiện rõ rệt nhờ hiệu ứng mùa vụ và sự phục hồi của ngành du lịch, dịch vụ trải nghiệm. Đặc biệt, người tiêu dùng có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các sản phẩm xanh, bền vững và phương tiện sử dụng năng lượng sạch.

Tích lũy tài sản cũng trở thành một bệ đỡ tăng trưởng cực kỳ quan trọng, đạt mức 20,4% trong quý 2 và 15,2% trong 6 tháng đầu năm 2026, phản ánh sự phục hồi rõ nét của dòng vốn đầu tư công và đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy tích lũy tài sản lưu động tăng kỷ lục (173,21%), nguyên nhân là do các doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện để dự trữ phục vụ sản xuất cho các chu kỳ tiếp theo.

Cùng với đó, hoạt động ngoại thương diễn ra sôi động khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2026 tăng tới 27,1% so với cùng kỳ năm 2025. Dù xuất khẩu tăng trưởng tốt ở mức 21% (tính vào GDP tăng 20,18%), nhưng tốc độ nhập khẩu còn nhanh hơn, đạt 33,4% (tính vào GDP tăng 26,44%).

Tình trạng nhập siêu này chủ yếu đến từ việc tăng giá dầu khí và việc các doanh nghiệp tập trung nhập khẩu tư liệu sản xuất, máy móc phục vụ cho việc mở rộng nhà xưởng, xây dựng các trung tâm dữ liệu lớn và hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI). Điều này phần nào tạo áp lực lên đóng góp ròng của khu vực đối ngoại vào GDP ngắn hạn, nhưng lại là nền tảng tốt cho năng lực sản xuất dài hạn.

Với kết quả GDP 6 tháng đầu năm, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2026 mà Quốc hội giao, áp lực tăng trưởng lên 6 tháng cuối năm sẽ như thế nào? Đâu là những khó khăn và thách thức lớn nhất mà nền kinh tế phải đối mặt?

Kết quả 6 tháng đầu năm là rất khả quan, song chặng đường nửa cuối năm 2026 lại đặt ra những thách thức không nhỏ. Theo kịch bản tăng trưởng được cập nhật mới nhất dựa trên mục tiêu thúc đẩy kinh tế mạnh mẽ, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2026 ở mức 10%, áp lực dồn lên hai quý cuối năm là vô cùng lớn.

Cụ thể, sau khi quý 1/2026 đạt 7,94% và quý 2/2026 đạt 8,39% (tính chung 6 tháng đạt 8,18%), nền kinh tế cần phải đạt mức tăng trưởng đột phá 11,16% trong quý 3/2026 và 12,09% trong quý 4/2026. Tính chung cả 6 tháng cuối năm, tốc độ tăng trưởng phải chạm mức 11,7%. Đây là một áp lực tăng trưởng rất lớn, đòi hỏi nỗ lực vượt bậc trong điều hành vĩ mô khi nền kinh tế phải đối mặt với một loạt rào cản từ cả bên ngoài lẫn bên trong.

Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, do đó bất kỳ rung lắc nào của thị trường quốc tế cũng sẽ truyền dẫn rất nhanh vào trong nước. Xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ thương mại, việc các nước lớn liên tục mở rộng rào cản kỹ thuật và biện pháp phòng vệ thương mại đang trực tiếp đe dọa các ngành chế biến, chế tạo hướng về xuất khẩu của Việt Nam.

Nửa cuối năm 2026, động lực tăng trưởng từ xuất khẩu được dự báo sẽ suy giảm phần nào do tổng cầu tại các thị trường chủ lực như Mỹ, EU phục hồi thiếu vững chắc, đơn hàng có nguy cơ thu hẹp và giá của nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đang có xu hướng giảm sâu dưới áp lực cạnh tranh quốc tế gay gắt.

Mặc dù đầu tư công được coi là “vốn mồi” kích thích tổng cầu, nhưng tiến độ giải ngân giai đoạn cao điểm cuối năm 2026 vẫn đối mặt với hàng loạt rào cản. Đó là sự chậm trễ trong giải phóng mặt bằng, thủ tục pháp lý điều chỉnh dự án kéo dài, năng lực thực thi không đồng đều giữa các địa phương và đặc biệt là tình trạng khan hiếm nguồn vật liệu xây dựng nền móng tại một số vùng kinh tế trọng điểm.

Nếu không giải quyết dứt điểm các nút thắt này, hiệu ứng lan tỏa của đầu tư công đến các ngành công nghiệp phụ trợ như xây dựng, vật liệu, vận tải sẽ bị giảm sút nghiêm trọng.

Ngoài ra, sau một thời gian dài chống chọi với các cú sốc, khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), vẫn gặp khó khăn: thiếu dòng tiền quay vòng, chi phí logistics neo ở mức cao; mặc dù mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm so với trước nhưng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn rất thấp. Tâm lý thận trọng, ngại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của khối tư nhân phản ánh sự bất định về thị trường đầu ra.

Biến động khó lường của đồng USD, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài của các ngân hàng trung ương lớn, cùng với rủi ro tăng giá năng lượng, nguyên nhiên vật liệu thế giới đang gây áp lực trực tiếp lên tỷ giá và lạm phát nhập khẩu của Việt Nam.

Ở trong nước, lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý (như y tế, giáo dục, năng lượng) vào cuối năm sẽ làm thu hẹp đáng kể dư địa điều hành của chính sách tiền tệ. Ranh giới giữa việc hạ lãi suất để kích thích tăng trưởng và việc kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá đang trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Dù đã có những tín hiệu ấm lên nhờ các thay đổi về mặt luật pháp, thị trường bất động sản vẫn có sự phân hóa rất lớn. Tình trạng thiếu hụt nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở thương mại vừa túi tiền đáp ứng nhu cầu thực vẫn tiếp diễn, trong khi không ít doanh nghiệp địa ốc lớn vẫn mắc kẹt trong bài toán tái cơ cấu nợ và huy động vốn mới. Sự tắc nghẽn này sẽ kìm hãm tốc độ phục hồi của ngành xây dựng và hàng chục ngành nghề kinh doanh liên quan.

Trước những áp lực và kịch bản tăng trưởng đầy thách thức như vậy, đâu sẽ là những động lực cốt lõi để chúng ta dựa vào, thưa Chuyên gia? Chính phủ và các doanh nghiệp cần tập trung vào các giải pháp chiến lược nào để đạt được mục tiêu cả năm?

Mặc dù áp lực tăng trưởng 6 tháng cuối năm 2026 lên tới 11,7% là vô cùng thách thức, nhưng chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tự tin vào mục tiêu cả năm nếu biết khai thác tối đa và đồng bộ các động lực chiến lược, cả cũ lẫn mới. Qua phân tích, tôi cho rằng có 4 nhóm động lực chính mà Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp cần tập trung kích hoạt mạnh mẽ trong nửa cuối năm.

Thứ nhất, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là nền tảng của tăng trưởng kinh tế. Cần tận dụng tối đa dòng vốn FDI đang chảy mạnh vào Việt Nam nhờ lợi thế ổn định chính trị và mạng lưới các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Việc các tập đoàn lớn đẩy mạnh đầu tư vào các dự án công nghệ cao, linh kiện điện tử, bán dẫn và trung tâm dữ liệu sẽ tạo dư địa lớn cho sản xuất.

Khu vực dịch vụ, đặc biệt là các ngành có giá trị gia tăng cao như thương mại điện tử, vận tải, logistics, tài chính - ngân hàng và du lịch quốc tế cần được tiếp sức thông qua các chương trình kích cầu du lịch cuối năm và tối ưu hóa hạ tầng vận tải để giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Thứ hai, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Đây là giải pháp mang tính quyết định. Việc Hà Nội đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) chiến lược, cùng tiến độ khẩn trương của các trục cao tốc liên vùng và tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong thời gian tới sẽ là cú hích cho tổng cầu. Chính phủ cần quyết liệt phân cấp, phân quyền, tháo gỡ triệt để vướng mắc về mỏ vật liệu xây dựng và đền bù giải phóng mặt bằng để dòng vốn đầu tư công được bơm vào nền kinh tế nhanh nhất, từ đó tạo hiệu ứng “kéo” dòng vốn đầu tư tư nhân cùng phục hồi.

Nửa cuối năm là thời điểm vàng của mùa mua sắm. Do vậy, cần tiếp tục duy trì các chính sách miễn, giảm thuế, phí hợp lý để nuôi dưỡng nguồn thu và kích thích tiêu dùng của hộ gia đình. Việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại kết hợp với thương mại điện tử sẽ giúp mở rộng không gian tiêu thụ hàng hóa nội địa.

Thứ ba, khai thác sâu kinh tế số và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và tự động hóa vào quy trình quản trị, sản xuất sẽ giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh giá đầu vào tăng cao. Dù trong ngắn hạn, đóng góp của công nghệ chủ yếu là nâng cao hiệu quả hệ thống hiện tại chứ chưa tạo ra mức tăng trưởng đột phá ngay lập tức, nhưng đây là xu hướng không thể đảo ngược để tái cơ cấu kinh tế theo chiều sâu.

Cùng với đó, cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) đang tạo thuận lợi để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các dự án năng lượng tái tạo và sản xuất xanh. Để tận dụng tốt cơ hội này, việc hoàn thiện hành lang pháp lý về mua bán điện trực tiếp, phát triển hạ tầng năng lượng sạch là ưu tiên hàng đầu nhằm giúp doanh nghiệp nội địa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu vốn đang ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn môi trường.

Thứ tư, cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh chính là “chìa khóa của mọi chìa khóa”. Chính phủ cần quyết liệt hơn nữa trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tháo gỡ các điểm nghẽn chồng chéo về luật đất đai, xây dựng và thị trường vốn. Việc tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, an toàn sẽ củng cố mạnh mẽ niềm tin của các nhà đầu tư tư nhân, khơi thông dòng vốn đang thắt nghẽn, từ đó nâng cao hiệu quả năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 27-2026 phát hành ngày 06/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-27-2026.htm

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ