Để tăng trưởng 10%, 6 tháng cuối năm phải đạt 11,7%: Áp lực lớn nhưng vẫn có dư địa

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê
Với kết quả GDP 6 tháng đầu năm, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2026 mà Quốc hội giao, áp lực tăng trưởng lên 6 tháng cuối năm sẽ như thế nào, thưa bà?
Chúng tôi cho rằng, bước sang 6 tháng cuối năm 2026, nền kinh tế đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Đà phục hồi được củng cố nhờ ổn định kinh tế vĩ mô, sản xuất công nghiệp và khu vực dịch vụ duy trì xu hướng tăng, đầu tư công được đẩy mạnh và môi trường đầu tư được cải thiện.
Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định như xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, biến động địa chính trị, chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn và tốc độ phục hồi chưa đồng đều của tổng cầu thế giới. Trong nước, sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế, một số động lực tăng trưởng truyền thống có dấu hiệu suy yếu, trong khi các động lực mới chưa đủ mạnh để tạo sự bứt phá trong ngắn hạn.
Áp lực đầu tiên đến từ bối cảnh bên ngoài. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại và rào cản kỹ thuật đang làm gia tăng rủi ro đối với xuất khẩu của Việt Nam. Với độ mở kinh tế lớn, biến động thương mại toàn cầu có thể nhanh chóng lan truyền đến các ngành chế biến, chế tạo định hướng xuất khẩu. Cùng với đó, tổng cầu tại các thị trường xuất khẩu chủ lực suy yếu làm thu hẹp đơn hàng và nguồn thu ngoại tệ, trong khi mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao và chi phí logistics gia tăng tiếp tục gây sức ép lên tỷ giá, lạm phát nhập khẩu và tính ổn định của chuỗi cung ứng.
Động lực từ xuất khẩu cũng có thể giảm so với nửa đầu năm. Mặc dù xuất khẩu vẫn duy trì tăng trưởng, song nhu cầu tiêu dùng tại nhiều thị trường lớn chưa phục hồi vững chắc, cạnh tranh quốc tế gay gắt và giá nhiều mặt hàng xuất khẩu có xu hướng giảm. Đáng chú ý, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc tương đối lớn vào một số thị trường, nhóm hàng chủ lực, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước của nhiều sản phẩm còn thấp. Điều này khiến khu vực xuất khẩu dễ bị tổn thương trước những thay đổi về chính sách thương mại hoặc biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là một trong những yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng. Mặc dù nửa cuối năm thường là giai đoạn tăng tốc giải ngân, nhiều dự án vẫn đối mặt với khó khăn như giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục kéo dài, thiếu nguồn vật liệu xây dựng tại một số địa phương và năng lực triển khai không đồng đều. Nếu giải ngân không được cải thiện mạnh, hiệu ứng lan tỏa đến xây dựng, công nghiệp vật liệu, vận tải và khu vực doanh nghiệp sẽ bị hạn chế.
Khu vực doanh nghiệp cũng tiếp tục chịu nhiều áp lực. Sau giai đoạn phục hồi, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn về dòng tiền, khả năng tiếp cận tín dụng, chi phí logistics và biến động của thị trường đầu ra. Mặt bằng lãi suất đã giảm, nhưng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa thực sự cải thiện, phản ánh tâm lý thận trọng trong mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Cùng với đó, áp lực điều hành kinh tế vĩ mô, tỷ giá, lãi suất và lạm phát vẫn hiện hữu. Biến động của đồng USD, xu hướng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn cùng với những biến động của giá năng lượng và nguyên liệu trên thị trường thế giới có thể tạo sức ép lên tỷ giá và mặt bằng giá trong nước. Đồng thời, việc tiếp tục điều chỉnh giá một số hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình cũng có thể làm thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm.
Bên cạnh đó, thị trường bất động sản tuy đã có tín hiệu phục hồi nhưng còn phân hóa; nguồn cung nhà ở phù hợp với nhu cầu thực còn hạn chế, trong khi một bộ phận doanh nghiệp bất động sản vẫn khó khăn về tài chính và khả năng huy động vốn. Điều này có thể ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi của ngành xây dựng và các ngành liên quan.
Theo bà, đâu là các động lực chính để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm?
Bên cạnh những áp lực nêu trên, nền kinh tế vẫn có nhiều yếu tố thuận lợi để duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm.
Trước hết là động lực từ sản xuất. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là nền tảng của tăng trưởng kinh tế nếu đơn hàng xuất khẩu tiếp tục được cải thiện và hoạt động sản xuất của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài duy trì ổn định. Dòng vốn FDI tiếp tục là điểm sáng nhờ môi trường chính trị ổn định, xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Các dự án trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và năng lượng tiếp tục tạo dư địa mở rộng năng lực sản xuất.
Khu vực dịch vụ cũng tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng. Các ngành thương mại, vận tải, logistics, tài chính - ngân hàng, công nghệ thông tin, lưu trú, ăn uống và du lịch được kỳ vọng duy trì tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu trong nước gia tăng và sự phục hồi của thị trường khách quốc tế.
Về phía cầu, đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực quan trọng trong 6 tháng cuối năm. Với quy mô vốn lớn và nhiều dự án hạ tầng trọng điểm đang được triển khai, việc đẩy nhanh giải ngân sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa đến xây dựng, công nghiệp vật liệu, vận tải, thương mại, tạo thêm việc làm và kích thích tổng cầu. Bên cạnh đó, đầu tư tư nhân cũng kỳ vọng hồi phục sẽ góp phần cùng đầu tư công mở rộng tổng cầu và nâng cao năng lực sản xuất.
Tiêu dùng trong nước được kỳ vọng tiếp tục phục hồi nhờ thu nhập và việc làm của người lao động được cải thiện. Những tháng cuối năm cũng là giai đoạn cao điểm của nhu cầu mua sắm và dịch vụ, qua đó thúc đẩy khu vực thương mại và dịch vụ.
Một dư địa quan trọng khác là điều hành chính sách của Chính phủ. Việc tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp về tài khóa và tiền tệ, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy giải ngân đầu tư công và cải thiện môi trường đầu tư sẽ góp phần củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cùng với các động lực truyền thống, nền kinh tế đang có thêm những động lực mới. Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư quốc tế tiếp tục tạo cơ hội để Việt Nam nâng cao vị thế trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả cơ hội này, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuyển đổi số cũng đang trở thành động lực tăng trưởng mới chiến lược. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và tự động hóa trong sản xuất, kinh doanh, quản trị sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và đổi mới mô hình tăng trưởng. Trong ngắn hạn, đóng góp của động lực này chủ yếu thể hiện ở việc nâng cao hiệu quả của các ngành kinh tế hiện có, hơn là tạo ra mức tăng trưởng đột phá.
Phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng cũng mở ra cơ hội mới trong thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cam kết phát thải ròng bằng “0”, cùng xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu theo hướng bền vững, tạo điều kiện để Việt Nam thu hút các dự án năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa cơ hội này phụ thuộc vào tiến độ hoàn thiện cơ chế, chính sách, huy động nguồn lực đầu tư và phát triển hạ tầng năng lượng.
Cuối cùng, cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục là động lực nền tảng. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, xây dựng và thị trường vốn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, khuyến khích đầu tư tư nhân và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững.

Để cả năm đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, Cục Thống kê cập nhật kịch bản tăng trưởng như thế nào?
Trên cơ sở kết quả tăng trưởng GDP quý II và 6 tháng đầu năm, Cục Thống kê cập nhật kịch bản tăng trưởng theo Nghị quyết 01/2026/NQ-CP. Theo đó, quý I tăng 7,94%; quý II tăng 8,39%; 6 tháng tăng 8,18%. Để cả năm 2026 tăng 10%, quý III cần tăng 11,16%, 9 tháng tăng 9,19%; quý IV tăng 12,09%. Như vậy, 6 tháng cuối năm cần đạt mức tăng trưởng 11,7%.
Để đạt mục tiêu này, các bộ, ngành, địa phương cần ưu tiên các giải pháp tạo thêm động lực tăng trưởng. Trước hết là khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, xử lý các rào cản hành chính, minh bạch hóa dữ liệu kinh tế để có cơ sở ra quyết định nhanh chóng. Đồng thời, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công, tập trung nguồn vốn nhà nước vào các dự án hạ tầng giao thông và dự án trọng điểm.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cấp chuỗi giá trị, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để tìm kiếm thị trường ngách, tránh phụ thuộc vào một nguồn cung hoặc một thị trường tiêu thụ duy nhất, qua đó giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc địa chính trị hoặc phòng vệ thương mại.
WB vừa xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao trong cập nhật mới nhất về phân loại thu nhập quốc gia. Vị thế mới sẽ mang lại những thuận lợi và thách thức gì, thưa bà?
Việc Ngân hàng Thế giới xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao sau khi GNI của Việt Nam đạt 4.970 USD vào năm 2025 là một dấu mốc rất quan trọng, phản ánh thành quả của quá trình tăng trưởng kinh tế bền bỉ, ổn định trong nhiều năm qua. Điều này cũng cho thấy chất lượng của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện, thu nhập và mức sống của người dân từng bước được nâng lên.
Tuy nhiên, đây chủ yếu là sự thay đổi về vị thế phát triển, không đồng nghĩa với việc Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân vẫn còn khoảng cách đáng kể so với các nước thu nhập cao, đòi hỏi năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của nền kinh tế vẫn cần tiếp tục được nâng lên.
Việc gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao mở ra nhiều thuận lợi như nâng cao uy tín và vị thế quốc tế, tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, tạo điều kiện thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao và thúc đẩy hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhưng bên cạnh đó, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức. Nguồn vốn vay ưu đãi và hỗ trợ phát triển quốc tế có thể giảm dần; yêu cầu về chất lượng tăng trưởng, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm phát triển bền vững sẽ cao hơn. Điều này càng đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Xin cảm ơn bà!
Lê Đỗ
3 giờ trước
18 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
12 phút trước
27 phút trước
1 giờ trước
57 phút trước
1 phút trước
5 phút trước
7 phút trước
20 phút trước
24 phút trước
27 phút trước
32 phút trước