Kiến tạo kỷ nguyên bứt phá và định hình nền kinh tế tự cường

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khẳng định Mô hình phát triển mới của Việt Nam đang chuyển đổi theo chiều sâu. (Ảnh nhân vật cung cấp)
Nghị quyết số 19-NQ/TW đánh dấu một bước ngoặt mang tính chiến lược, định hình mô hình phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 và 2130. Nền kinh tế sẽ chuyển dịch sang mô hình tự chủ nội sinh, dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, và đổi mới sáng tạo.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia Chính sách công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã có những phân tích chuyên sâu về sự dịch chuyển này, nhấn mạnh vào các đột phá về tư duy quản trị vĩ mô, khơi thông giá trị của "tư liệu sản xuất mới" và cơ chế chấp nhận rủi ro để xây dựng một nền kinh tế tự cường, hội nhập.

(Ảnh minh họa có sử dụng yếu tố AI)
Điểm tới hạn của mô hình tăng trưởng cũ
Phóng viên: Việt Nam đã trải qua 40 năm đổi mới với những dấu mốc về kinh tế ấn tượng. Mô hình phát triển của Việt Nam trong 40 năm qua có thay đổi như thế nào, thưa ông?
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt: Nhìn lại 40 năm Đổi mới (1986-2026), mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam đã trải qua sự chuyển đổi qua các giai đoạn mang tính lịch sử và mang lại những kết quả khác nhau khi tác động tới tăng trưởng kinh tế đất nước.
Giai đoạn 1986 đến trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (năm 2006), mô hình kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi từ “Kế hoạch hóa tập trung” sang “Kinh tế thị trường” và giải phóng sức sản xuất cơ bản. Thời điểm này, Việt Nam tập trung xóa bỏ cơ chế bao cấp, thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, thực hiện khoán sản xuất (Khoán 10) và mở cửa thương mại biên giới. Giai đoạn này giúp Việt Nam giải quyết dứt điểm khủng hoảng thiếu hụt hàng tiêu dùng, đưa quốc gia trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.
Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2025, mô hình tăng trưởng Việt Nam dựa trên xuất khẩu mở rộng, quy mô vốn, lao động và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Sau khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại lớn nhất thế giới, tỷ lệ xuất nhập khẩu/GDP duy trì ở mức 166%-170%. Động lực chính đến từ tích lũy vốn cho phát triển công nghiệp chế biến-chế tạo, chiếm 32%-35% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và trọng tâm là đầu tư khu vực FDI. Từ đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực dẫn dắt, đóng góp 31,49% vào tổng giá trị tăng thêm năm 2025; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4% nửa đầu năm 2026.
Những mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã thực hiện phù hợp đối với từng thời kỳ, tuy nhiên, đến nay mô hình này đã đến giới hạn khi chạy theo chỉ số Kim ngạch xuất khẩu gộp (Gross Exports).

Mô hình tăng trưởng cũ đã đến điểm giới hạn. (Ảnh: PV)
Biểu hiện của việc đã chạm trần giới hạn cấu trúc ở các điểm như sau:
Trước hết là bẫy giá trị gia tăng thấp. Việt Nam bị nén chặt ở đáy "Sơ đồ Nụ cười" (Smile Curve), nơi gia công, lắp ráp tạo ra giá trị gia tăng nội địa (DVA) rất mỏng. Tỷ lệ giá trị gia tăng nước ngoài (FVA) trong hàng xuất khẩu duy trì ở mức cao (từ 48%-50%).
Mặt khác, hiện tượng "Ốc đảo FDI" xuất hiện khi khu vực FDI chi phối hơn 73%-77% kim ngạch xuất khẩu nhưng liên kết ngược với doanh nghiệp tư nhân trong nước rất yếu, chỉ khoảng 18% doanh nghiệp nội kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu GVC.
Cuối cùng, hiệu quả sử dụng vốn thấp và năng suất nhân tố tổng hợp TFP suy giảm. Theo phân tích, hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) ở mức cao từ 5,8-6,43. Nghĩa là cần khoảng 6 đồng vốn đầu tư để tạo ra 1 đồng GDP tăng thêm, trong khi đóng góp của năng suất nhân tố Tổng hợp (TFP) trong thập kỷ qua chỉ tăng bình quân khoảng 0,9%/năm. Cùng với đó, dư địa lợi thế "dân số vàng" thô của chúng ta đang dần cạn kiệt.
Do vậy giai đoạn từ 2026 trở đi, khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, chúng ta cần có mô hình phát triển mới phù hợp với tình hình kinh tế trong nước. Và Nghị quyết số 19-NQ/TW (sau đây gọi là Nghị quyết 19) ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã chỉ ra, Việt Nam sẽ phải chuyển sang Mô hình tự chủ nội sinh, dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và giá trị gia tăng nội địa (DVA). Mô hình này sẽ chuyển đổi căn bản từ "phát triển theo chiều rộng" sang "phát triển theo chiều sâu", lấy tri thức, lao động sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao DVA trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đột phá cốt lõi về tư duy thể chế
Phóng viên: Nghị quyết 19 là cuộc "cách mạng bản lề" về mặt thể chế phát triển của Việt Nam cho chặng đường hướng tới năm 2045 và tầm nhìn 2130. Theo quan điểm của ông, Mô hình phát triển theo Nghị quyết 19 có gì đột phá?
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt: Nghị quyết số 19 đã thực sự tạo ra một bước ngoặt mang tính cách mạng về tư duy phát triển. Những đột phá cốt lõi nhất bao gồm:
Thứ nhất, đột phá về thước đo quản trị vĩ mô. Chúng ta đổi đơn vị đo lường chất lượng tăng trưởng, thay vì chạy theo kim ngạch xuất khẩu gộp hay số lượng dự án FDI đăng ký, cần định hướng quản trị vĩ mô dựa trên giá trị gia tăng nội địa (DVA), và tỷ lệ xuất khẩu giá trị gia tăng-Chỉ số VAX (Value-Added Export Ratio), qua đó nâng cao hiệu quả TFP và thu nhập quốc dân khả dụng (NDI). Tinh thần cốt lõi là không cần xuất khẩu nhiều hơn bằng mọi giá, mà cần tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Thứ hai, đột phá về tư liệu sản xuất mới. Nghị quyết 19 coi "Dữ liệu" và "Tài sản trí tuệ" là động lực cốt lõi. Nghị quyết lần đầu tiên chính thức nâng cấp Dữ liệu số và Sở hữu trí tuệ (IP) trở thành tư liệu sản xuất chính, hạ tầng nền tảng cho lực lượng sản xuất mới. Do vậy, hướng đi đột phá là gia tăng hàm lượng tri thức và số hóa trong các ngành động lực, nhất là công nghiệp và dịch vụ.
Thứ ba, đột phá về tư duy quản lý thể chế, từ "Tiền kiểm" sang "Chấp nhận rủi ro" và "Quản trị theo kết quả". Nghị quyết nhấn mạnh việc xóa bỏ tư duy hành chính cứng nhắc "không quản được thì cấm", thể chế hóa cơ chế chính sách và quy định thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), đồng thời chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học-đổi mới sáng tạo, chuyển sang hậu kiểm dựa trên phân tích dữ liệu rủi ro.

Nghị quyết số 19 tạo ra một bước ngoặt mang tính cách mạng về tư duy phát triển với nhiều đột phá. (Ảnh minh họa: ĐỖ BẢO)
"Tài sản hóa" dữ liệu để sinh dòng tiền
Phóng viên: Như Tiến sĩ đã phân tích ở trên, Nghị quyết 19-NQ/TW đã chính thức coi "dữ liệu" là một "tư liệu sản xuất mới". Điều này thay đổi căn bản cách chúng ta định giá và phân bổ nguồn lực kinh tế như thế nào so với các tư liệu sản xuất truyền thống trước đây (như đất đai, vốn, lao động)? Để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực sinh dòng tiền, thể chế tài chính và sở hữu trí tuệ của Việt Nam cần có những đột phá gì?
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt: Việc chính thức công nhận "Dữ liệu" là tư liệu sản xuất mới làm thay đổi triệt để lý thuyết phân bổ nguồn lực. Sự khác biệt đến từ bản chất kinh tế học khi tư liệu truyền thống (như đất đai, vốn, lao động thô) bị giới hạn về mặt vật lý, mang tính cạnh tranh tiêu dùng (rivalrous) và tuân theo quy luật hiệu suất biên giảm dần.
Trong khi đó, tư liệu dữ liệu (Data) có tính không cạnh tranh (non-rivalrous), có thể tái sử dụng vô tận với chi phí cận biên bằng 0, và tuân theo quy luật hiệu suất biên tăng dần nhờ hiệu ứng mạng lưới (network effects). Dữ liệu chính là nguồn nguyên liệu nhiên liệu để vận hành AI, tự động hóa và chuỗi cung ứng thông minh.
Do vậy, những đột phá thể chế tài chính và sở hữu trí tuệ cần thiết để dữ liệu sinh ra dòng tiền cần nhấn mạnh ở đây, trước hết là việc thừa nhận pháp lý và cơ chế "Tài sản hóa" Dữ liệu & IP (Assetization). Mô hình phát triển mới sẽ cho phép định giá, công nhận dữ liệu, phần mềm, bằng sáng chế là tài sản hợp pháp trên bảng cân đối kế toán doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh nghiệp có thể dùng Dữ liệu và IP để góp vốn thành lập doanh nghiệp, làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu.
Bộ Tài chính cùng Ngân hàng Nhà nước cần ban hành chuẩn mực kế toán và phương pháp định giá dòng tiền do dữ liệu tạo ra (Data Valuation Framework). Tạo lập sàn giao dịch dữ liệu minh bạch, đi đôi với hoàn thiện Luật Dữ liệu, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng để dữ liệu được lưu thông an toàn giữa Nhà nước-Doanh nghiệp-Các tổ chức tài chính.
Thiết lập hành lang Sandbox và quản trị rủi ro
Phóng viên: Đổi mới sáng tạo luôn đi kèm rủi ro. Việc Nghị quyết đưa khái niệm "chấp nhận rủi ro" vào thực thi cơ chế quản lý khoa học công nghệ và khuyến khích các địa phương thí điểm "thử nghiệm có kiểm soát" là một bước đi quan trọng. Làm thế nào để xây dựng một hành lang pháp lý "dung hợp được rủi ro" này, bảo vệ người dám nghĩ dám làm nhưng vẫn quản trị được các rủi ro hệ thống, thưa Tiến sĩ?
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt: Trong đổi mới sáng tạo, rủi ro và thất bại là một thuộc tính tự nhiên. Nếu áp dụng tư duy "bảo toàn vốn nhà nước" theo kiểu hành chính tiền kiểm đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D và mô hình kinh doanh mới, chúng ta sẽ triệt tiêu hoàn toàn động lực đổi mới.
Để thiết lập hành lang pháp lý "dung hợp rủi ro", Việt Nam cần triển khai đồng bộ các cơ chế như sau.
Cần thể chế hóa Luật hóa cơ chế Sandbox trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, định ranh giới rõ ràng về không gian (địa bàn thí điểm), thời gian (ví dụ từ 1 đến 2 năm) và quy mô khách hàng tham gia thử nghiệm đối với các công nghệ mới (AI, Fintech, tài sản số, logistics thông minh). Trong phạm vi Sandbox, doanh nghiệp được miễn trừ một số nghĩa vụ tuân thủ quy định hiện hành.
Xác định ranh giới pháp lý giữa thất bại khách quan và cố ý trục lợi, trên cơ sở đó, bảo vệ cán bộ công chức và nhà khoa học dựa trên quy trình. Nếu quá trình thử nghiệm tuân thủ đúng quy trình công khai, minh bạch, không có động cơ tham nhũng hay vụ lợi cá nhân, thì kết quả không đạt mục tiêu đầu ra được coi là chi phí đầu tư chấp nhận được của R&D.
Đồng thời, chuyển đổi sang quản trị rủi ro hậu kiểm (Risk-based Ex-post Regulation). Thay vì bắt buộc xin cấp phép tiền kiểm qua nhiều bước, nhiều khâu thì cho phép doanh nghiệp tự kê khai và triển khai. Cơ quan quản lý giám sát bằng thuật toán tự động và dữ liệu thời gian thực; chỉ can thiệp khi các chỉ báo vượt ngưỡng rủi ro hệ thống cho phép.
Giải phóng lực lượng sản xuất mới, làm chủ công nghệ
Phóng viên: Nghị quyết đặt mục tiêu phát triển mạnh mẽ "lực lượng sản xuất mới" dựa trên AI, công nghệ bán dẫn, vật liệu mới và làm chủ các công nghệ chiến lược. Lực lượng này nếu được phát triển mạnh thì sẽ tạo ra những đột phá gì cho kinh tế quốc gia, thưa ông?
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt: Nếu lực lượng sản xuất mới này được giải phóng đúng tầm, nền kinh tế Việt Nam sẽ tạo ra những bước đột phá mang tính quyết định. Việt Nam sẽ bứt phá bẫy giá trị gia tăng thấp và đảo ngược “Sơ đồ Nụ cười” trong chuỗi giá trị xuất khẩu, giúp Việt Nam thoát khỏi kiếp gia công hạ nguồn. Việc làm chủ công nghệ thiết kế chip, phần mềm nhúng AI, vật liệu tiên tiến sẽ nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa (DVA) trong xuất khẩu công nghiệp từ mức xấp xỉ 50% hiện nay lên hơn 65%-70%, trực tiếp biến kim ngạch xuất khẩu gộp thành thu nhập quốc dân thực tế (GNI/NDI) cho đất nước.
Mô hình tăng trưởng mới sẽ giải bài toán tăng trưởng GDP 2 con số từ 10%/năm bằng TFP mà không gây rủi ro vĩ mô. World Bank đã chỉ ra rằng nếu chỉ dựa vào tích lũy vốn (K) để đạt GDP 10%, tỷ lệ đầu tư xã hội phải lên mức 49% GDP-một kịch bản bất khả thi và gây bùng nổ nợ xấu, bong bóng tài sản. Lực lượng sản xuất mới dựa trên AI và công nghệ chiến lược là chìa khóa duy nhất để đẩy đóng góp của TFP lên hơn 60% vào tăng trưởng (đạt tốc độ tăng TFP 1,8%-2,0%/năm), giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng bền vững và chi phí vốn thấp.
Cuối cùng, mô hình tăng trưởng mới sẽ xóa bỏ hiện tượng "Ốc đảo FDI", kiến tạo đội ngũ doanh nghiệp tư nhân nội địa. Lực lượng sản xuất mới giúp doanh nghiệp tư nhân thuần Việt nâng cao năng lực hấp thụ và đồng sáng tạo công nghệ. Từ đó, doanh nghiệp Việt không chỉ đóng vai trò gia công phụ trợ bao bì, thùng carton mà đủ sức vươn lên thành nhà cung ứng cấp 1 (Tier-1), đối tác thiết kế (ODM) của các tập đoàn toàn cầu, chấm dứt tình trạng bị cô lập kinh tế và tạo nền tảng tự cường cho đất nước.
Hệ thống mục tiêu và tầm nhìn của Nghị quyết 19-NQ/TW thể hiện một tư duy phát triển mang tính dài hạn, mang tính chiến lược và đồng bộ. Đổi mới mô hình phát triển không chỉ giới hạn ở việc thay đổi các chỉ số kinh tế đơn thuần mà là một cuộc cải cách toàn diện, chuyển đổi phương thức vận hành quốc gia sang hướng tự cường, dựa vào tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và lấy con người làm trung tâm. Tôi tin rằng, với mô hình phát triển mới Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được hai mục tiêu 100 năm mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
Thực hiện: NHA TRANG
21 phút trước
2 giờ trước
5 giờ trước
14 giờ trước
15 giờ trước
20 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
8 ngày trước
10 ngày trước
10 ngày trước
13 ngày trước
14 ngày trước
15 ngày trước
19 ngày trước
20 ngày trước
1 giờ trước
51 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
4 phút trước
6 phút trước
7 phút trước