Chính sách khoa học, công nghệ phải tạo ra năng suất mới

Quang cảnh hội thảo.
Diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia năm 2026, do Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) phối hợp Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổ chức, hội thảo tập trung vào bài toán thiết kế và thực thi chính sách để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tạo năng suất mới.
Diễn đàn năm nay có chủ đề “Bứt phá năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Việt Nam tiến nhanh tới Tầm nhìn 2045”, với sự tham dự của lãnh đạo Chính phủ, Bộ KHCN, đại diện các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia, học giả, tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp.
Hướng đến làm chủ công nghệ
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (Bộ KHCN) cho rằng trong giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên.

Ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Ủy ban TCĐLCL Quốc gia phát biểu tại hội thảo.
Theo ông, dư địa tăng trưởng bền vững phải đến từ năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực.
Tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trực tiếp của phát triển. Vì vậy, vấn đề không chỉ là tiếp tục khẳng định vai trò của khoa học và công nghệ, mà quan trọng hơn là xây dựng cơ chế để tri thức, công nghệ và các nguồn lực hỗ trợ đi vào doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ.
Đây cũng là điểm giao giữa chính sách và thực tiễn doanh nghiệp được các tham luận tại hội thảo nhấn mạnh.
Theo GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo đang bước vào giai đoạn mới, với AI trở thành một trong những “hạ tầng năng suất” quan trọng. Bên cạnh đó, R&D đang chuyển từ mô hình tài trợ các dự án riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới; chính sách STI ngày càng hướng tới giải quyết các thách thức quốc gia.
Theo ông, Chính phủ cũng cần chuyển từ vai trò chủ yếu là cấp ngân sách, phê duyệt và quản lý dự án sang kiến tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo, thông qua hạ tầng dữ liệu, hạ tầng AI, tiêu chuẩn công nghệ, sandbox, môi trường thử nghiệm thực tế, mua sắm công thúc đẩy đổi mới và nền tảng kết nối nhân tài.
Một thay đổi quan trọng là chuyển từ câu hỏi “chi bao nhiêu cho R&D?” sang “STI tạo ra bao nhiêu năng lực và giá trị?”. Theo đó, hiệu quả chính sách cần được đánh giá qua khả năng thương mại hóa công nghệ, hợp tác đại học - doanh nghiệp, sự hình thành và mở rộng của startup, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp và mức độ phổ cập công nghệ, trong đó có tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng AI.
GS.TS. Vũ Minh Khương đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phổ cập công nghệ tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, tránh tình trạng đổi mới sáng tạo chỉ tập trung ở các tập đoàn lớn. Công nghệ phải được chuyển hóa thành kết quả thực tế, đồng thời nâng cao năng suất lao động, năng suất tài nguyên, năng lượng, vật liệu và vốn.

GS. TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore chia sẻ tại hội thảo.
Chính sách cũng có thể làm giảm năng suất
Ở góc độ thể chế, bà Võ Thị Lan Phương, chuyên gia đánh giá tác động chính sách, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam, chỉ ra 6 nhóm chính sách có nguy cơ làm giảm năng suất gồm: tạo chi phí tuân thủ quá lớn, hạn chế cạnh tranh, cản trở đổi mới sáng tạo, gia tăng rủi ro, tạo “bẫy quy mô” và bảo hộ.
Trong đó, những quy định thiếu rõ ràng, thay đổi thường xuyên, yêu cầu quá nhiều thủ tục, kiểm tra hoặc buộc doanh nghiệp cung cấp lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có có thể làm tăng chi phí tuân thủ, thu hẹp nguồn lực dành cho đầu tư và đổi mới.
Đáng chú ý, chính sách cũng có thể trở thành rào cản đối với công nghệ mới nếu cấm mô hình kinh doanh mới chỉ vì pháp luật chưa có quy định, buộc công nghệ mới tuân thủ quy trình được thiết kế cho công nghệ cũ hoặc không cho phép thử nghiệm có kiểm soát. Khi đó, chi phí và rủi ro đổi mới tăng lên, làm giảm động lực R&D và khả năng thương mại hóa công nghệ.
Bà Võ Thị Lan Phương đề xuất tăng cường đánh giá tác động chính sách (RIA), trong đó lượng hóa chi phí tuân thủ, đánh giá tác động dài hạn đến đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời xem xét phản ứng của doanh nghiệp trước các phương án chính sách.
Đưa chính sách đến được doanh nghiệp
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Trần Phúc Hồng, Giám đốc điều hành TMA Innovation, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ TMA, Phó Chủ tịch Liên minh Công nghệ số Việt Nam, tập trung vào tác động của chính sách KHCN) đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với năng suất doanh nghiệp.
Theo ông, năng suất cần được đo bằng những kết quả cụ thể như doanh thu, lợi nhuận trên mỗi nhân viên, sản phẩm trên giờ lao động, tỷ lệ lỗi, mức độ tối ưu quy trình, tự động hóa, kỹ năng nhân viên và đổi mới sáng tạo.
Từ thực tiễn này, ông đề xuất thành lập các trung tâm ứng dụng công nghệ theo từng lĩnh vực, sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch tài sản trí tuệ, đồng thời tạo thuận lợi cho xuất nhập khẩu thiết bị phục vụ R&D và dịch vụ công nghệ.
Những tham luận tại hội thảo cho thấy một điểm chung: năng suất không chỉ được tạo ra bằng việc tăng đầu tư cho KHCN mà bằng khả năng chuyển hóa nguồn lực thành đổi mới, công nghệ thành giá trị và đổi mới thành năng suất.
Với Việt Nam, điều này đòi hỏi chính sách phải đồng thời tạo môi trường thể chế thuận lợi, giảm chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới, đồng thời xây dựng cơ chế để công nghệ lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi chính sách thực sự đi được đến doanh nghiệp và tạo ra thay đổi trong năng suất, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới có thể trở thành động lực trực tiếp cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thu Hương
2 giờ trước
4 giờ trước
10 giờ trước
6 ngày trước
5 phút trước
2 phút trước
6 phút trước
22 phút trước
Vừa xong
3 phút trước
6 phút trước
10 phút trước
11 phút trước
13 phút trước