Không để khoảng trống pháp lý trong quản lý, giám sát dịch vụ chăm sóc trẻ em

Các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ. (Ảnh: QH)
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 21/10, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế.
Tăng cường giám sát, kịp thời phát hiện nguy cơ xâm hại trẻ em
Tại khoản 4 và khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật , sửa đổi Điều 58 và Điều 59 Luật Trẻ em quy định cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đáp ứng yêu cầu trước khi hoạt động; đồng thời quy định đình chỉ, chấm dứt hoạt động khi có vi phạm
Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Đoàn Quảng Trị) chỉ ra, hiện dự thảo Luật không còn quy định tiêu chuẩn đối với người điều hành, người trực tiếp tiếp xúc với trẻ em.
Theo đại biểu, việc bỏ thủ tục tiền kiểm không đồng nghĩa với bỏ tiêu chuẩn này, bởi đây không phải thủ tục hành chính mà là yêu cầu bảo vệ trẻ em theo khoản 1 Điều 37 Hiến pháp, đồng thời là căn cứ để đình chỉ hoạt động theo điểm a khoản 1 Điều 59 dự thảo Luật.

Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Đoàn Quảng Trị). (Ảnh: TH)
Về thẩm quyền, khoản 2 Điều 58 dự thảo Luật quy định cơ sở thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã, nhưng khoản 3 Điều 59 dự thảo Luật giao "người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em các cấp" và "cơ quan nhà nước có thẩm quyền... theo quy định của pháp luật" đình chỉ, chấm dứt hoạt động, mà không xác định chủ thể cụ thể.
Đại biểu phân tích: Theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp, việc hạn chế quyền phải do luật quy định. Luật hiện hành tại khoản 3 Điều 57 và khoản 3 Điều 59 giao chính quyền cấp huyện cấp đăng ký và đình chỉ hoạt động đối với cơ sở có phạm vi hoạt động trong địa bàn huyện; khi không còn cấp huyện, thẩm quyền này cần được giao rõ cho chính quyền cấp xã, để thống nhất với việc dự thảo đã giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ tại khoản 3 Điều 52 và quyết định giao trẻ em cho cơ sở trợ giúp xã hội tại khoản 2 Điều 66. Ngoài ra, khoản 1 Điều 8 dự thảo Luật cho phép cơ sở đã thành lập tiếp tục hoạt động nhưng không yêu cầu thông báo, nên chính quyền cấp xã không nắm được các cơ sở đang hoạt động trên địa bàn để hậu kiểm.
Dẫn thực tiễn cho thấy rủi ro đối với trẻ em tại các cơ sở nuôi giữ chủ yếu đến từ người trực tiếp chăm sóc như vụ bạo hành tại Mái ấm Hoa Hồng, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 9/2024) hay tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, một trẻ khuyết tật 5 tuổi tử vong nghi do bạo hành tại cơ sở nuôi trẻ hoạt động không phép từ năm 2016, đại biểu chỉ ra những vụ việc này xảy ra khi pháp luật còn điều kiện tiền kiểm.
“Nếu bỏ tiêu chuẩn đối với người điều hành, người chăm sóc và không giao rõ thẩm quyền đình chỉ cho chính quyền cơ sở, thì người từng xâm hại trẻ em vẫn có thể điều hành cơ sở nuôi dưỡng chỉ bằng một thông báo, và khi phát hiện vi phạm, chính quyền cơ sở không đủ căn cứ để dừng ngay hoạt động của cơ sở nuôi giữ trẻ, trong khi trẻ em vẫn đang ở trong cơ sở đó”, đại biểu thẳng thắn nêu.

Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh). (Ảnh: Phạm Thắng)
Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) cũng cho rằng, việc bãi bỏ cơ chế quản lý điều kiện kinh doanh cần đi đôi với thiết lập cơ chế quản lý phù hợp, bảo đảm không tạo khoảng trống pháp lý trong quản lý, kiểm tra và giám sát hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em.
Đại biểu đề nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan; nghiên cứu ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về điều kiện cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em và xây dựng cơ chế hậu kiểm.Theo đó, các đơn vị có thể chủ động thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định, nhưng hoạt động hậu kiểm phải được thực hiện thường xuyên, liên tục; ít nhất cần có cơ chế kiểm tra, giám sát ngay sau khi cơ sở được thành lập, bởi đối tượng trực tiếp được chăm sóc là trẻ em.
Cùng với đó, cần xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức chính trị-xã hội ở xã, phường, khu dân cư trong việc quan tâm, giám sát các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em trên địa bàn, kịp thời phát hiện và phản ánh các dấu hiệu vi phạm.
Kiểm soát chặt giá, chất lượng thiết bị y tế, bảo đảm người bệnh tiếp cận thuốc
Góp ý vào nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 113 Luật Khám bệnh, chữa bệnh liên quan thiết bị y tế, đại biểu Dương Minh Tuấn (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) cho hay, qua thực tế thẩm tra giá mua thiết bị cho thấy, một số sản phẩm có giá ban đầu thấp nhưng chi phí sử dụng lâu dài lại rất lớn do phụ thuộc vào hóa chất, sinh phẩm độc quyền.

Đại biểu Dương Minh Tuấn (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh). (Ảnh: PHẠM THẮNG)
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định để bảo đảm tính ràng buộc trong việc cân nhắc, lựa chọn và mua sắm thiết bị y tế, không chỉ căn cứ vào giá mua ban đầu mà còn phải tính đến chi phí vận hành, hóa chất, sinh phẩm và các sản phẩm đi kèm trong suốt quá trình sử dụng.
Đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn Điện Biên) bày tỏ đồng tình với việc phải quản lý chặt thiết bị y tế, nhất là giá cả và chất lượng.
Đại biểu chỉ ra thực tế thời gian qua có những thiết bị giá mua ban đầu không phải quá cao, nhưng chi phí vật tư đi kèm, bảo trì, sửa chữa sau đó lại rất lớn; có trường hợp qua nhiều khâu trung gian thì giá bị đẩy lên.
Vì vậy, theo đại biểu cần làm rõ hơn trách nhiệm quản lý từ khi mua sắm, đưa vào sử dụng, bảo trì, sửa chữa cho đến khi thanh lý; không nên chỉ nhìn vào giá mua thiết bị ban đầu.

Đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn Điện Biên). (Ảnh: QH)
“Tôi đề nghị bổ sung theo hướng phải công khai rõ giá thiết bị, các chi phí đi kèm, đơn vị phân phối, dịch vụ bảo trì và những khoản bắt buộc phải sử dụng kèm theo thiết bị. Trường hợp qua nhiều đơn vị trung gian nhưng không làm tăng thêm giá trị thực tế mà chỉ làm tăng giá thì cần có cơ chế kiểm tra, xử lý”, đại biểu kiến nghị.
Theo đại biểu, nếu làm được điều này thì mới kiểm soát được chi phí thật sự của thiết bị y tế, chứ không chỉ kiểm soát được giá mua ban đầu.
Tán thành kiểm soát giá thuốc để bảo vệ người bệnh, tuy nhiên đại biểu cũng lưu ý phải tránh tình trạng thủ tục quá nhiều, tiêu chí không rõ, khiến việc đưa thuốc cần thiết ra thị trường bị chậm.
Theo đó, khi sửa các quy định của Luật Dược về công bố, kê khai và kiểm soát giá thuốc, cần làm rõ 2 việc. Một là, khi cơ quan quản lý cho rằng giá thuốc doanh nghiệp công bố là cao bất hợp lý thì phải có tiêu chí so sánh rõ ràng và yêu cầu doanh nghiệp giải trình bằng căn cứ cụ thể. Hai là, khi xây dựng cơ chế kiểm soát giá phải tính đến những trường hợp có đặc thù về nguồn cung, số lượng người sử dụng, chi phí vận chuyển, bảo quản hoặc điều kiện cung ứng, để tránh áp dụng cứng nhắc một cách cho mọi loại thuốc.
“Mục tiêu cuối cùng vẫn phải là: Giá thuốc phải được kiểm soát, nhưng người bệnh không được vì thế mà chậm tiếp cận thuốc cần thiết”, đại biểu chia sẻ.
Thu Hằng
3 phút trước
37 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
49 phút trước
3 phút trước
7 phút trước
8 phút trước