🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Khơi dòng vốn để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ biển

3 giờ trước
Với kinh tế biển Việt Nam, nguồn lực tài chính chưa bao giờ có một câu trả lời đơn giản bởi đây là bài toán phối hợp hài hòa giữa các kênh vốn, mỗi kênh một vai trò, một tốc độ, một khẩu vị rủi ro khác nhau.

Dòng vốn ngân hàng gần gũi với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến kinh tế biển

Chung nguồn lực cho mục tiêu phát triển kinh tế biển

Để đạt được mục tiêu phải chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh. Theo đó, trong thời gian qua, ngân sách nhà nước đã tập trung đầu tư cho hệ thống cảng biển, hạ tầng ven biển, khu kinh tế ven biển, phòng chống thiên tai, bảo vệ bờ biển và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Mới đây, HĐND tỉnh Quảng Ngãi đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh, giai đoạn III có quy mô 32,6 km, với tổng mức đầu tư khoảng 6.000 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách Trung ương nhằm tạo trục giao thông ven biển thông suốt, đáp ứng nhu cầu vận tải, du lịch và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực miền Trung.

Trong khi đó, tỉnh Ninh Bình đang khẩn trương hoàn thiện Đồ án Quy hoạch chung Khu kinh tế Ninh Cơ đến năm 2050. Một trong những nội dung đáng chú ý của đồ án là đề xuất nghiên cứu mở rộng khoảng 16.000ha mặt biển để xây dựng tổ hợp cảng biển nước sâu theo quy hoạch đã được Bộ Xây dựng phê duyệt... Sự quyết tâm đầu tư này giúp nguồn vốn đầu tư công góp phần hình thành nền tảng hạ tầng quan trọng cho phát triển các ngành kinh tế biển và tạo điều kiện thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân.

Nếu như nguồn vốn ngân sách tạo nền tảng kết nối các nguồn lực thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) góp phần quan trọng trong việc “nuôi dưỡng” các khu công nghiệp ven biển. Đơn cử, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, các khu công nghiệp, khu kinh tế tại Hải Phòng đã thu hút 2,93 tỷ USD vốn FDI, đạt 81,4% kế hoạch năm, với dự án điểm nhấn là nhà máy trị giá 1 tỷ USD của LG Innotek. Trong khi đó, Khu kinh tế mở Chu Lai (Đà Nẵng) - khu kinh tế ven biển đầu tiên của cả nước - sau hơn 23 năm hình thành đã thu hút 265 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 165.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu hút thêm 5 tỷ USD vốn đầu tư cho giai đoạn 2026-2030.

Cùng với ngân sách nhà nước và FDI, tín dụng ngân hàng là dòng vốn gần gũi nhất với người dân, doanh nghiệp dựa vào kinh tế biển. Trên vùng biển Hoài Nhơn (tỉnh Gia Lai), nghề câu cá ngừ đại dương từ lâu đã trở thành sinh kế chính của nhiều gia đình ngư dân.

Ông Nguyễn Văn Phưỡng, một chủ tàu khai thác hải sản, cho biết ông bắt đầu vay vốn ngân hàng từ năm 2008 để xây dựng cơ nghiệp. Tới nay, với hạn mức tín dụng là 9 tỷ đồng, hiện dư nợ của ông khoảng 8,75 tỷ đồng. Từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng kết hợp với kinh nghiệm nhiều năm bám biển, ông Phưỡng đã đầu tư đội tàu gồm 5 tàu câu cá ngừ đại dương. Mỗi chuyến biển thường kéo dài gần một tháng, trên tàu có khoảng 5 đến 8 lao động làm việc thường xuyên. Trước mỗi chuyến đi, chủ tàu đã ứng trước tiền công cho lao động, chi phí nhiên liệu và nhiều khoản chi phí khác, vì vậy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì hoạt động sản xuất của gia đình.

Cần một cơ chế điều phối đủ mạnh

Tuy nhiên, đầu tư vào kinh tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức khiến không ít nhà đầu tư còn đắn đo, chùn bước. Một trong những nguyên nhân quan trọng là các dự án kinh tế biển thường có đặc điểm vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài và mức độ rủi ro cao.

Chẳng hạn, các dự án điện gió ngoài khơi đòi hỏi tổng vốn đầu tư lên tới hàng tỉ USD, thời gian chuẩn bị và triển khai kéo dài từ 7 đến 10 năm. Các dự án nuôi biển công nghiệp, phục hồi hệ sinh thái biển hoặc phát triển tín chỉ carbon xanh cũng gặp khó khăn trong việc chứng minh hiệu quả tài chính ngắn hạn, trong khi cơ chế định giá các lợi ích môi trường và xã hội chưa hoàn thiện.

Nhìn tổng thể, một chuyên gia nhận định, Việt Nam không thiếu nguồn vốn đầu tư cho kinh tế biển, song cái thiếu là một cơ chế điều phối đủ mạnh để các dòng vốn tìm đúng địa chỉ, đúng dự án, đúng thời điểm thay vì phân tán, chồng chéo hoặc lệch pha.

Ở góc độ quốc tế, bà Alexandra Smith, Tổng Lãnh sự Vương quốc Anh cho rằng, Việt Nam đang sở hữu tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế biển nhờ đường bờ biển dài, hệ thống cảng biển giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực và vị trí chiến lược trong thương mại quốc tế. Để nâng cao chuỗi giá trị gia tăng trong nước, Việt Nam cần từng bước phát triển các dịch vụ tài chính hàng hải đi kèm, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò trung chuyển hàng hóa.

Đồng thời, việc phát triển hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ đồng bộ như bảo hiểm hàng hải, tài trợ thương mại, logistics tài chính và các công cụ tài chính xanh sẽ giúp gia tăng giá trị nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng và tính bền vững.

Không chỉ vậy, trong bối cảnh Việt Nam triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển và thực hiện các cam kết về tăng trưởng xanh, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính cho các ngành kinh tế biển xanh ngày càng gia tăng.

Để không bỏ lỡ cơ hội phát triển từ xu hướng này cho kinh tế biển, TS. Nguyễn Đình Đáp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế biển xanh.

Trong đó, cần đẩy nhanh quá trình sửa đổi, hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo hướng tăng cường các công cụ kinh tế, phát huy giá trị của không gian biển như một nguồn lực phát triển; hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê và sử dụng khu vực biển minh bạch, hiệu quả. Xây dựng bộ tiêu chí quốc gia về kinh tế biển xanh và tài chính biển xanh làm cơ sở cho việc xác định các dự án ưu tiên, đánh giá hiệu quả đầu tư và tiếp cận các nguồn vốn xanh trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính xanh, mở rộng các công cụ huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án kinh tế biển xanh. Nghiên cứu xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu xanh đại dương, quỹ đầu tư biển xanh, quỹ đầu tư tác động và các mô hình tài chính hỗn hợp nhằm thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân và các định chế tài chính quốc tế.

Hương Giang

TIN LIÊN QUAN




































Home Icon VỀ TRANG CHỦ