🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Chuyên gia: Chính sách thuế phải tạo năng lực mới cho doanh nghiệp, thay vì chỉ bù đắp khó khăn

58 phút trước
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần một làn sóng cải cách chính sách ở cấp độ vi mô. Theo các chuyên gia, bên cạnh cải cách thể chế và tín dụng, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng hỗ trợ đúng đối tượng, tạo động lực cho đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

Dư địa chính sách vĩ mô thu hẹp, cải cách vi mô trở thành động lực mới

Phát biểu tại Diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số" tổ chức sáng 14/7, PGS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là bài toán về tốc độ mà còn đòi hỏi sự chuyển biến về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: M.T.

Theo ông, những thành quả ổn định kinh tế vĩ mô thời gian qua mới chỉ là điều kiện cần. Động lực tăng trưởng thực sự được tạo ra ở cấp độ doanh nghiệp, ngành kinh tế và từng dự án đầu tư. Nếu doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí tuân thủ cao, thủ tục hành chính kéo dài và khó tiếp cận các nguồn lực như đất đai, dữ liệu, vốn hay công nghệ thì nền kinh tế khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn.

Vì vậy, bên cạnh việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, cần chuyển trọng tâm sang các cải cách vi mô mang tính đột phá, trực tiếp tháo gỡ các điểm nghẽn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Theo PGS.TS Lê Văn Lợi, ba yêu cầu quan trọng là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; tập trung nguồn lực cho những ngành và doanh nghiệp có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa; đồng thời coi chất lượng thực thi chính sách là một bộ phận của chính sách, bởi sự chậm trễ trong triển khai cũng tạo ra chi phí cho nền kinh tế.

Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, đánh giá kinh tế Việt Nam đã có khởi đầu tích cực trong năm 2026 khi GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18%, mức cao nhất trong 16 năm, trong khi lạm phát vẫn được kiểm soát.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn chịu nhiều sức ép từ biến động địa chính trị, lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao, tăng trưởng giữa các địa phương chưa đồng đều và các động lực tăng trưởng mới chưa phát huy rõ nét.

Theo ông Hùng, khi dư địa điều hành các chính sách tài khóa và tiền tệ ngày càng hạn chế nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, tăng trưởng trong giai đoạn tới cần được thúc đẩy bằng các cải cách ở cấp độ vi mô.

Diễn đàn tập trung thảo luận bốn nhóm giải pháp gồm hoàn thiện thể chế cho khu kinh tế, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế; đổi mới chính sách thuế; tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng; đồng thời xây dựng khuôn khổ pháp lý cho trí tuệ nhân tạo như một động lực tăng trưởng mới.

Chính sách thuế cần chuyển từ ưu đãi dàn trải sang hỗ trợ có mục tiêu

Một trong những nội dung được nhiều chuyên gia quan tâm là đổi mới chính sách thuế nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao.

Theo ông Nguyễn Văn Phụng, Nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý Thuế Doanh nghiệp Lớn, Tổng Cục Thuế, chính sách thuế trong giai đoạn mới không nên chỉ được nhìn nhận là công cụ tạo nguồn thu ngân sách mà cần trở thành công cụ thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.

"Chính sách thuế cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là một bộ phận quan trọng của chính sách phát triển. Thông qua việc tác động đến tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, đổi mới công nghệ và quyết định phân bổ nguồn lực của các chủ thể kinh tế, chính sách thuế có thể góp phần hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, khuyến khích mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất trong trung và dài hạn", ông Phụng cho hay.

Chuyên gia cho rằng chính sách thuế cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, có thời hạn và có cơ chế đánh giá hiệu quả. Các ưu đãi cần hướng tới những hoạt động tạo giá trị gia tăng cao như nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực và phát triển doanh nghiệp tư nhân, thay vì tiếp tục ưu đãi chủ yếu dựa trên quy mô vốn hoặc địa bàn đầu tư.

Trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên giai đoạn 2026-2030, ông Phụng cũng lưu ý mọi chính sách miễn, giảm thuế cần được lượng hóa đầy đủ về chi phí ngân sách và tác động kinh tế, tránh kéo dài các ưu đãi khi chưa chứng minh được hiệu quả.

Bên cạnh đó, việc hiện đại hóa quản lý thuế cũng cần chuyển từ điện tử hóa thủ tục sang quản lý dựa trên dữ liệu, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhưng vẫn nâng cao hiệu quả chống thất thu và bảo đảm an toàn thông tin.

"Chính sách thuế không nên chủ yếu tạo lợi thế bằng mức thuế suất thấp hoặc miễn, giảm thuế dựa trên địa bàn và quy mô vốn đăng ký. Trọng tâm cần chuyển dần sang khuyến khích những hoạt động, lĩnh vực có thể tạo ra năng suất và hiệu ứng lan tỏa, như nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, chuyển đổi số, phát triển nhà cung cấp trong nước và tăng cường liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp", ông Phụng nói.

TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho biết tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất của Việt Nam trong các giai đoạn 5 năm chỉ đạt khoảng 8,9%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% trong giai đoạn 2026-2030, mô hình tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng doanh nghiệp thay vì mở rộng vốn đầu tư hay khai thác lợi thế lao động giá rẻ.

Theo ông, doanh nghiệp vừa là đối tượng chịu tác động của các biến động kinh tế, vừa là chủ thể quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao.

Hiện cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, song phần lớn vẫn có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế và hiệu quả kinh doanh chưa cao. Trong khi đó, mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động sẽ đòi hỏi không chỉ gia tăng số lượng mà còn nâng cao năng suất và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

TS Phạm Anh Tuấn cho rằng bốn điểm nghẽn lớn hiện nay gồm thể chế, khả năng tiếp cận nguồn lực, thị trường và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, từ hộ kinh doanh đến doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tăng trưởng nhanh và doanh nghiệp dẫn dắt.

Đề cập đến chuyển đổi xanh, chuyên gia nghiên cứu tài chính Cao Minh Ngọc (Học viện Tài chính) nhận định quá trình này chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi giúp nâng cao công nghệ, năng suất và thay đổi cấu trúc phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.

Theo bà, Việt Nam hiện mới ở giai đoạn xây dựng nền tảng cho tăng trưởng xanh, trong khi năng lực công nghệ, hạ tầng truyền tải và thị trường tài chính xanh vẫn còn hạn chế. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường vốn xanh và nâng cao năng lực công nghệ trong nước.

Bên cạnh đó, các chuyên gia tại diễn đàn cũng nhấn mạnh vai trò của trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và các khu kinh tế thế hệ mới trong việc tạo ra động lực tăng trưởng mới.

Theo đánh giá chung của các đại biểu, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới chỉ có thể đạt được khi cải cách thể chế được thực hiện đồng bộ, doanh nghiệp được giảm chi phí tuân thủ, tiếp cận thuận lợi hơn với vốn, công nghệ và thị trường, đồng thời các chính sách hỗ trợ được thiết kế theo hướng khuyến khích năng suất, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân.

Trang Mai

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ