Chuẩn hóa hoạt động 'gọi' vốn qua kênh trái phiếu doanh nghiệp

Trong nhiều năm, hệ thống ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Thế nhưng, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong 5 năm tới, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho phát triển hạ tầng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh sẽ ngày càng lớn.
Trước viễn cảnh trên, Ngân hàng Thế giới (WB) khuyến nghị Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tích lũy các yếu tố sản xuất và huy động vốn qua ngân hàng sang mô hình dựa vào năng suất, khu vực tư nhân và phát triển thị trường vốn sâu rộng hơn.
Nền kinh tế cần một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó ngân hàng, thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các định chế tài chính cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn.
Thực tế, Quyết định 1726 của Thủ tướng phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 cũng đặt mục tiêu đưa quy mô thị trường cổ phiếu lên 120% GDP vào năm 2030.
Đồng thời, nâng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp lên ít nhất 25% GDP. Tất cả cho thấy quyết tâm của các ngành quản lý trong việc phát triển thị trường vốn thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế giai đoạn tới.
Chia sẻ tại Hội nghị "Phát hành chứng khoán - Động lực cho tăng trưởng kinh tế" diễn ra sáng 7/7, bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), nguồn vốn tín dụng ngân hàng chủ yếu đáp ứng nhu cầu ngắn hạn, trong khi thị trường vốn giữ vai trò cung cấp nguồn lực trung và dài hạn cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Trong đó, hoạt động phát hành chứng khoán không chỉ giúp doanh nghiệp huy động vốn mà còn góp phần chuyển hóa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thành nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn của nền kinh tế.
Dẫn số liệu về hoạt động huy động vốn, Chủ tịch UBCKNN cho biết tổng giá trị huy động thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt hơn 763.000 tỷ đồng trong năm 2025.
Với 6 tháng đầu năm 2026, giá trị phát hành cổ phiếu đạt khoảng 114.000 tỷ đồng (tăng hơn 67% so với cùng kỳ năm trước), còn giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt gần 149.000 tỷ đồng.
“Những con số này phản ánh nhu cầu mở rộng đầu tư của doanh nghiệp, cũng như niềm tin ngày càng được củng cố của nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam”, bà Phương nhìn nhận.

Bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Ảnh: Sự kiện
Thậm chí, để khuyến khích doanh nghiệp huy động vốn qua kênh trái phiếu, Chính phủ đã ban hành Nghị định 200/2026 với nhiều quy định mới nhằm tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), hướng tới mục tiêu vừa tạo thuận lợi hơn cho hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và bảo đảm thị trường phát triển ổn định, minh bạch.
Theo người đại diện của UBCKNN, Nghị định 200 bổ sung nhiều quy định nhằm hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động phát hành TPDN, trong đó làm rõ mục đích phát hành, quản lý và sử dụng vốn; tách bạch điều kiện, hồ sơ, thủ tục chào bán theo từng nhóm doanh nghiệp; tăng cường yêu cầu công bố thông tin; phân định rõ trách nhiệm quản lý, giám sát giữa các cơ quan và tăng cường phân cấp cho chính quyền địa phương.
Từ góc độ thành viên thị trường, ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT Saigon Ratings, cũng đánh giá Nghị định 200 đã phân định rõ trách nhiệm giám sát của các chủ thể tham gia thị trường.
Trong đó, UBCKNN thực hiện giám sát, thanh tra các công ty đại chúng và tổ chức trung gian thuộc phạm vi quản lý; UBND cấp tỉnh tiếp nhận dữ liệu, theo dõi, thanh tra và xử lý đối với các doanh nghiệp không phải công ty đại chúng có trụ sở trên địa bàn. Còn đại diện người sở hữu trái phiếu có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các cam kết của tổ chức phát hành, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo khi phát hiện vi phạm.
Nhưng để cơ chế này phát huy hiệu quả khi triển khai, ông Minh cho rằng cần hình thành một quy trình quản lý khép kín từ công bố dữ liệu, đối chiếu thông tin, nhận diện các dấu hiệu cảnh báo, thanh tra, kiểm tra đến yêu cầu khắc phục hoặc xử lý vi phạm và công khai kết quả xử lý.
Cụ thể, cần chuẩn hóa dữ liệu để thông tin được công bố theo biểu mẫu thống nhất, bảo đảm khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp và giữa các kỳ báo cáo.
Đồng thời, dữ liệu cần được liên thông giữa Sở Giao dịch Chứng khoán với Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, đơn vị kiểm toán, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các cơ quan quản lý chuyên ngành nhằm tăng khả năng đối chiếu, xác minh thông tin.
Bên cạnh đó, cần xây dựng các chỉ báo cảnh báo sớm đối với những dấu hiệu như hệ số thanh toán lãi vay suy giảm, dòng tiền kinh doanh âm kéo dài, nợ ngắn hạn tăng nhanh, chậm công bố thông tin, thay đổi đơn vị kiểm toán, tài sản bảo đảm giảm giá trị hoặc phát sinh nghĩa vụ nợ chéo.
“Việc xử lý các trường hợp vi phạm cũng cần được thực hiện kịp thời và nhất quán, bởi nếu doanh nghiệp công bố thông tin chậm hoặc sai lệch nhưng không được phát hiện, không bị yêu cầu điều chỉnh hoặc không chịu chế tài tương xứng thì hiệu quả của cơ chế công bố thông tin sẽ khó được bảo đảm”, ông Minh phân tích.
Hoàng Đông
4 giờ trước
5 giờ trước
10 giờ trước
11 giờ trước
2 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
7 ngày trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
19 phút trước
30 phút trước
2 giờ trước