🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Bổ nhiệm lại chức danh nghề nghiệp: Nhà giáo lo bị 'đóng khung' năng lực

17 giờ trước
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thiện dự thảo sửa đổi quy định bổ nhiệm chức danh và xếp lương nhà giáo, nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận. Từ thực tiễn triển khai, góc nhìn người trong cuộc cho thấy: Chính sách xếp hạng chỉ thật sự công bằng khi lấy năng lực thực tế hiện tại làm thước đo cốt lõi.

Lớp 6 - hành trình mới bắt đầu bằng những nụ cười hân hoan của cô và trò. Ảnh: Trường Trung học Cơ sở Cầu Giấy

Nỗi lo bị "đóng khung" năng lực từ những quy định cũ

Trong câu chuyện xếp hạng chức danh nghề nghiệp nhà giáo ở nhiều trường phổ thông, không ít người từng trải qua cảm giác bất an trước nguy cơ bị đẩy xuống hạng thấp hơn.

Lý do hoàn toàn không nằm ở sự giảm sút về trình độ hay thành tích công tác, mà đến từ những nút thắt thủ tục giai đoạn 2015-2021. Đó là sự thử thách đối với lòng tự trọng người thầy, khi hành trình nỗ lực và trưởng thành của họ đứng trước rủi ro không được ghi nhận tương xứng.

Một thập kỷ qua, đội ngũ nhà giáo chưa từng dậm chân tại chỗ. Họ kiên trì học hỏi, gồng gánh những yêu cầu mới từ Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, từng bước làm chủ công nghệ thông tin và phương pháp giảng dạy hiện đại.

Thực tế tại các nhà trường cho thấy, không ít nhà giáo trên hồ sơ hiện chỉ giữ chức danh "hạng III" nhưng đã và đang đảm nhận những trọng trách chuyên môn then chốt - từ làm tổ trưởng chuyên môn, trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi, xây dựng các chuyên đề giảng dạy cho đến dìu dắt lực lượng giáo viên trẻ.

Bên cạnh đó là nỗ lực âm thầm của hàng nghìn giáo viên các môn đặc thù như Tin học, Ngoại ngữ hay Nghệ thuật. Dù khởi điểm ở trình độ cao đẳng hay đã có sẵn bằng đại học nhưng chưa được xếp đúng hệ số lương tương ứng. Các thầy cô vẫn kiên trì nâng cao năng lực chuyên môn để đáp ứng tốt nhất yêu cầu giảng dạy.

Năng lực nghề nghiệp luôn là một quá trình tích lũy và kiểm chứng qua thực tiễn giảng dạy. Yếu tố này không thể là chỉ số cố định bị siết chặt ở thời điểm mới vào ngành.

Vì vậy, việc yêu cầu một nhà giáo đang hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hạng II quay trở về mốc xuất phát hạng III chỉ vì những vướng mắc hành chính trong quá khứ là cách tiếp cận thiếu cơ sở thực tiễn.

Xếp hạng chức danh nhà giáo từ góc nhìn công bằng thực chất

Chính từ thực tiễn cống hiến đó, việc đại đa số giáo viên đồng thuận lựa chọn phương án 1 đối với nhóm đối tượng từng được bổ nhiệm ngay hạng cao giai đoạn 2015-2021 là điều hoàn toàn dễ hiểu. Đây cũng là lựa chọn tối ưu, tiệm cận nhất với nguyên tắc công bằng hiện đại.

Trong khi tư duy quản lý cũ thường có xu hướng đóng khung và cố định nhân sự ở quá khứ - dẫn đến hai thái cực sai lệch: hoặc cào bằng giữ hạng tràn lan, hoặc cào bằng đẩy tất cả xuống hạng thấp hơn. Thì trái lại, phương án 1 lại giải quyết bài toán này bằng sự phân loại thực chất.

Cốt lõi của phương án 1 nằm ở việc đặt phẩm chất, năng lực chuyên môn và mức độ hoàn thành nhiệm vụ tại thời điểm hiện tại làm thước đo quyết định.

Công bằng trong quản trị nhân sự không có nghĩa là mọi người đều nhận một kết quả giống nhau. 

Công bằng thực sự là khi tất cả nhân sự được đánh giá trên cùng một hệ thống tiêu chí minh bạch: Ai đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và hoàn thành tốt nhiệm vụ thì tiếp tục giữ hạng; ai chưa đạt chuẩn thì chấp nhận chuyển xuống hạng thấp hơn để có lộ trình phấn đấu.

Cách tiếp cận này vừa giúp tôn trọng quá trình trưởng thành của nhà giáo, tạo niềm tin và động lực phát triển nghề nghiệp lâu dài, vừa đảm bảo tính nghiêm túc trong công tác quản lý đội ngũ của ngành giáo dục.

Cần bộ tiêu chí minh bạch trong bổ nhiệm hạng chức danh nhà giáo để tránh "giữ hạng tràn lan"

Ở góc độ quản lý nhà nước, áp lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo là hoàn toàn có thật. Nếu không có rào cản kỹ thuật đủ mạnh, phương án 1 rất dễ bị biến tướng thành cơ chế "hợp thức hóa" hoặc giữ hạng tràn lan, gây mất cân bằng cơ cấu nhân sự.

Trên thực tế, nhà giáo không sợ bị đánh giá, họ chỉ e ngại sự thiếu minh bạch. Để chính sách đi vào cuộc sống một cách thuyết phục và đúng bản chất, cơ quan quản lý cần thiết lập một cơ chế đánh giá thực chất.

Muốn vậy, cơ quan quản lý cần chú trọng ba yếu tố cốt lõi. Thứ nhất, quy định danh mục minh chứng rõ ràng, định lượng được cho từng hạng (sản phẩm chuyên môn, thành tích bồi dưỡng, kết quả đánh giá học sinh).

Thứ hai, quy trình rà soát tại cơ sở phải công khai, có sự thẩm định khách quan của hội đồng chuyên môn thay vì quyết định cảm tính từ cấp quản lý.

Thứ ba, cá nhân hóa trách nhiệm gắn trách nhiệm của hiệu trưởng và Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc phê duyệt, ngăn chặn tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý hoặc lợi dụng quy trình.

Bên cạnh câu chuyện phương án, một điểm sáng mang tính nhân văn sâu sắc của dự thảo là việc kiên quyết khắc phục tình trạng "bị hạ hạng ép" ở một số địa phương do tự ý áp chỉ tiêu tỷ lệ thăng hạng.

Việc dự thảo khẳng định chuyển xếp chức danh là chuyển tiếp tương đương, không phụ thuộc vào cơ cấu tỷ lệ, cùng quy định cho phép khôi phục hạng và truy lĩnh tiền lương, phụ cấp chênh lệch đã giải tỏa một nỗi bức xúc kéo dài.

Với nhà giáo, khoản tiền truy lĩnh bù đắp thu nhập là cần thiết, nhưng điều lớn lao hơn cả là sự thừa nhận danh dự: Họ đã bị xếp sai và nay được trả lại đúng vị trí cống hiến.

Thu nhập và danh xưng chức danh nghề nghiệp luôn gắn liền với sự tôn nghiêm của người đứng trên bục giảng. Một chính sách xếp hạng giáo viên đúng đắn không nên là những nút thắt thủ tục làm nản lòng người tâm huyết, mà phải là thước đo ghi nhận đúng giá trị thực.

Khi chính sách được nhìn nhận đúng bản chất - không cào bằng hạ hạng, không mặc định giữ nguyên, mà đánh giá đúng năng lực thực tế - người thầy mới có thể trút bỏ hết những băn khoăn về "hạng - bậc" để toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp trồng người.

Hồng Phong

TIN LIÊN QUAN






























































Home Icon VỀ TRANG CHỦ