🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Bảo vệ người lao động từ lúc tuyển chọn đến khi trở về

6 giờ trước
Tham gia thảo luận tại Tổ 3 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) nhấn mạnh, lần sửa luật này phải đồng thời siết chặt các định nghĩa pháp lý để chống lừa đảo, số hóa để minh bạch và cắt giảm thủ tục để kiến tạo thị trường lao động. Mục tiêu cuối cùng là để mỗi người lao động ra nước ngoài đều đi bằng con đường chính thống và được pháp luật bảo vệ đầy đủ.

Không “khóa cứng” thủ tục trong luật

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật và các cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn được nêu trong Tờ trình của Chính phủ. Đại biểu đánh giá hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị công phu, đầy đủ thành phần; đặc biệt đã có dự thảo văn bản hợp nhất, dự thảo nghị định và thông tư quy định chi tiết kèm theo.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, dự thảo đang "luật hóa" quá nhiều thủ tục hành chính. Các Điều 12, 13, 14, 15, 16 và Điều 18 quy định rất chi tiết về hồ sơ, trình tự và thủ tục.

Đại biểu đề nghị rà soát tổng thể theo hướng không đưa vào luật những nội dung thuộc thẩm quyền quy định của Chính phủ, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị. Lao động di cư là lĩnh vực thường xuyên biến động theo từng thị trường và từng thời điểm. Nếu các thủ tục được “khóa cứng” trong điều luật thì mỗi lần cần điều chỉnh lại phải trình Quốc hội, vừa chậm, vừa không cần thiết.

Cùng với việc phân định rõ nội dung thuộc thẩm quyền của luật và Chính phủ, đại biểu đề nghị phải cắt giảm thủ tục một cách thực chất, tránh tình trạng chỉ chuyển quy định từ luật xuống nghị định nhưng tổng số thủ tục và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, người lao động không giảm.

Theo ĐBQH Phan Thị Thùy Linh, vấn đề cốt lõi nhất trong lần sửa đổi này là phải bịt được khoảng trống pháp lý đang bị lợi dụng để lừa đảo người lao động.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Sau 5 năm thi hành, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã tạo ra nhiều tiến bộ trong công tác quản lý. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là tình trạng cho thuê, cho mượn giấy phép và mạo danh doanh nghiệp được cấp phép để lừa đảo người lao động vẫn diễn biến phức tạp, nhất là trên mạng xã hội, trong khi chế tài hậu kiểm chưa đủ sức răn đe.

Nguyên nhân trực tiếp là luật hiện hành đã sử dụng một số khái niệm nhưng chưa xác định rõ nội hàm. Điều 26 yêu cầu doanh nghiệp dịch vụ phải trực tiếp tuyển chọn người lao động nhưng chưa làm rõ thế nào là “trực tiếp”; hành vi cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép cũng chưa được định nghĩa cụ thể. Vì vậy, cơ quan thanh tra có thể phát hiện biểu hiện sai phạm nhưng thiếu căn cứ pháp lý để kết luận và xử lý.

Đại biểu chỉ rõ, trên thực tế đã xuất hiện một chuỗi lách luật theo mô thức khá quen thuộc. Doanh nghiệp có giấy phép ký hợp đồng “hợp tác” với một trung tâm không có giấy phép. Trung tâm này treo biển mang tên doanh nghiệp, quảng cáo trên mạng xã hội, tự tổ chức phỏng vấn và thu tiền của người dân. Khi không đưa được người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp phủ nhận trách nhiệm với lý do không ủy quyền, còn đơn vị trung gian có thể giải thể. Người lao động mất tiền nhưng không biết yêu cầu ai chịu trách nhiệm.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Từ thực tế này, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo lần đầu tiên luật hóa hai khái niệm quan trọng. Theo đó, doanh nghiệp phải trực tiếp tuyển chọn hoặc phối hợp với đối tác nước ngoài, không được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thay. Mọi hình thức để tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép của doanh nghiệp đều được xác định là hành vi cho người khác sử dụng giấy phép và bị nghiêm cấm, kể cả khi chỉ liên quan đến một phần hoạt động hoặc thỏa thuận được đặt tên là hợp tác, tư vấn hay môi giới.

Theo đại biểu, quy định như vậy sẽ chặn được những lập luận thường được sử dụng để né tránh trách nhiệm, như doanh nghiệp chỉ hợp tác ở một khâu nhỏ hoặc đơn vị trung gian tự ý thực hiện.

Để các quy định này có thể đi vào cuộc sống, đại biểu đề nghị làm rõ ranh giới giữa hoạt động chuẩn bị nguồn lao động và hoạt động tuyển chọn.

Việc liên kết với cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo nghề, ngoại ngữ và giáo dục định hướng trong khâu tạo nguồn vẫn cần thiết và chính đáng. Trong khi đó, những công đoạn gắn trực tiếp với tuyển chọn như tư vấn đơn hàng cụ thể, sơ tuyển, phỏng vấn, ký hợp đồng và thu tiền của người lao động phải do chính doanh nghiệp thực hiện, không được ủy quyền dưới bất kỳ hình thức nào.

Nếu không phân định rõ, có thể phát sinh hai hệ quả trái chiều. Các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc sẽ e ngại liên kết đào tạo vì lo vi phạm pháp luật; trong khi những đối tượng vi phạm có thể núp bóng hợp đồng liên kết đào tạo để tổ chức tuyển chọn trá hình mà cơ quan quản lý lại thiếu căn cứ xử lý.

Các ĐBQH tỉnh Tây Ninh tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung vào nhóm hành vi bị nghiêm cấm việc tư vấn, cung cấp thông tin sai lệch về thị trường lao động, chi phí và điều kiện làm việc, kể cả hành vi được thực hiện trên mạng xã hội.

Đồng thời, khi chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo Nghị định số 372/2025/NĐ-CP, cần nâng chế tài xử lý tương xứng. Theo đại biểu, nếu bỏ tiền kiểm nhưng hậu kiểm không đủ sức răn đe thì về thực chất sẽ dẫn đến buông lỏng quản lý.

Liên quan đến hạ tầng dữ liệu, đại biểu tán thành cơ chế doanh nghiệp thông báo trực tuyến danh sách người lao động trên cơ sở dữ liệu quốc gia và được triển khai hoạt động ngay khi hệ thống ghi nhận.

Giá trị lớn nhất của cơ chế này không chỉ nằm ở việc giảm thủ tục, mà còn tạo ra nguồn thông tin chính thống để người lao động tự tra cứu, nhận diện doanh nghiệp được cấp phép, qua đó phòng ngừa lừa đảo hiệu quả hơn so với việc chỉ xử lý sau khi vi phạm đã xảy ra.

Đại biểu đề nghị bổ sung quy định về lưu vết quá trình thay đổi thông tin trên cơ sở dữ liệu, tránh tình trạng dữ liệu bị chỉnh sửa để hợp thức hóa sai phạm. Đối với việc định giá trần tiền dịch vụ và thù lao môi giới, cần đánh giá tác động kỹ lưỡng để không làm phát sinh các khoản thu ngoài luồng.

Bảo vệ người lao động trong suốt hành trình đi làm việc ở nước ngoài

Từ góc độ lĩnh vực Ủy ban Văn hóa và Xã hội phụ trách, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh chỉ ra ba khoảng trống liên quan trực tiếp đến người lao động cần được xử lý trong dự thảo Luật.

Trước hết là chất lượng giáo dục định hướng và công tác chuẩn bị nguồn lao động. Các thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đang có nhu cầu lớn đối với lao động có chứng chỉ hành nghề trong các lĩnh vực điều dưỡng, hộ lý và chăm sóc người cao tuổi. Chuẩn bị nguồn lao động tốt sẽ giúp Việt Nam từng bước chuyển từ đưa lao động phổ thông sang lao động có kỹ năng, có thu nhập cao hơn và đối mặt với ít rủi ro hơn.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu đề nghị Điều 18 quy định rõ trách nhiệm đào tạo và việc thu phí trong giai đoạn tạo nguồn, bởi đây là khâu đang phát sinh nhiều tiêu cực. Các quy định phải vừa tạo điều kiện cho hoạt động đào tạo nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng chính đáng, vừa ngăn chặn việc lợi dụng giai đoạn tạo nguồn để tuyển chọn, thu tiền trái quy định.

Khoảng trống thứ hai là sự chênh lệch giữa các vùng, miền trong khả năng tiếp cận cơ hội đi làm việc ở nước ngoài. Theo đại biểu, không phải người dân ở mọi khu vực đều có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin chính thống về thị trường lao động, ngành nghề, chi phí, quyền lợi và những rủi ro có thể gặp phải. Vì vậy, cần làm rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã tại Điều 18, gắn với hoạt động tư vấn và định hướng cho người dân.

Chính quyền cấp xã là cấp gần dân nhất, có điều kiện nắm bắt nhu cầu, hoàn cảnh và khả năng của từng nhóm lao động. Việc xác định rõ trách nhiệm tư vấn, cung cấp thông tin và định hướng ngay từ cơ sở sẽ góp phần hạn chế tình trạng người lao động tìm đến các trung gian không được cấp phép hoặc bị dẫn dắt bởi thông tin không chính xác trên mạng xã hội.

Khoảng trống thứ ba là chính sách đối với người lao động sau khi trở về nước. Mỗi năm có hàng chục nghìn người lao động trở về với tay nghề, ngoại ngữ và kỷ luật lao động đã được rèn luyện trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế kết nối việc làm tương xứng để khai thác hiệu quả nguồn nhân lực này.

Theo đại biểu, đây là sự lãng phí rất đáng tiếc. Vì vậy, dự thảo luật cần bổ sung điều khoản về hỗ trợ tái hòa nhập và kết nối việc làm cho người lao động sau khi trở về nước, giúp họ tiếp tục phát huy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm đã tích lũy.

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh cũng đề nghị rà soát kỹ tính đồng bộ của dự thảo với pháp luật về việc làm, bảo hiểm xã hội và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tại Điều 26, cần làm rõ trách nhiệm hướng dẫn người lao động tham gia bảo hiểm xã hội; đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý kịp thời những vụ việc ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và quyền lợi hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

Theo đại biểu, lần sửa đổi này cần đạt đồng thời ba yêu cầu: siết chặt các định nghĩa pháp lý để chống lừa đảo; đẩy mạnh số hóa để minh bạch thông tin; cắt giảm thủ tục để kiến tạo thị trường lao động.

Đích đến của các chính sách là bảo đảm mỗi người lao động Việt Nam ra nước ngoài đều đi bằng con đường chính thống, được cung cấp thông tin đầy đủ, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình làm việc, đồng thời được hỗ trợ tái hòa nhập và kết nối việc làm khi trở về nước.

Đào Cảnh

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ