Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải gắn với phát triển nguồn nhân lực
Sáng 5/8, thảo luận tại Tổ 12 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Vĩnh Long, Điện Biên và Lạng Sơn), các đại biểu Quốc hội quan tâm cho ý kiến về nhiều nội dung trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Cần chuyển mạnh tư duy trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung luật hiện hành, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính, ĐBQH Phan Văn Mãi (Vĩnh Long) cho rằng, cần chuyển mạnh tư duy trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, từ mục tiêu giải quyết việc làm sang định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính, ĐBQH Phan Văn Mãi (Vĩnh Long) phát biểu
Theo đại biểu, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần được thực hiện có định hướng và có kiểm soát về số lượng. Mục tiêu không chỉ là tạo việc làm và thu nhập mà quan trọng hơn là lựa chọn thị trường, ngành nghề phù hợp để người lao động tích lũy tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm, từ đó khi trở về có thể khởi nghiệp, làm chủ, đóng góp cho sự phát triển kinh tế trong nước.
Đại biểu Phan Văn Mãi nhấn mạnh, Trung ương cần định hướng rõ những ngành nghề, thị trường ưu tiên; đồng thời xây dựng chính sách tuyên truyền, hỗ trợ và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong nước với cơ quan đại diện ở nước ngoài để bảo hộ công dân, bảo đảm người lao động có thu nhập tốt, điều kiện làm việc an toàn và thuận lợi.
Đại biểu cũng cho rằng, sau thời gian làm việc ở nước ngoài, người lao động cần được tạo điều kiện phát huy những kiến thức, kinh nghiệm và nguồn lực tích lũy để tiếp tục đầu tư, tạo việc làm trong nước; đồng thời, trở thành cầu nối thúc đẩy đầu tư từ các quốc gia tiếp nhận lao động vào Việt Nam.
Từ đó, đại biểu Phan Văn Mãi đề nghị dự thảo luật cần thiết kế rõ hơn định hướng này: Trung ương tập trung quản lý về định hướng, chính sách, đàm phán thị trường và bảo hộ công dân, phân cấp cho địa phương triển khai thực hiện nhưng phải bám sát định hướng chung, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên Trần Tiến Dũng đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về việc triển khai các chương trình hợp tác trực tiếp giữa các địa phương của Việt Nam và địa phương nước ngoài trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên Trần Tiến Dũng phát biểu
Thực tiễn triển khai mô hình này ở một số địa phương, trong đó có tỉnh Điện Biên cho thấy người lao động hầu như không phải chi trả các khoản chi phí ban đầu, trong khi nếu đi xuất khẩu lao động thông qua doanh nghiệp dịch vụ thường phải gánh nhiều loại chi phí, làm tăng áp lực tài chính trước khi xuất cảnh.
Trong khi đó, khi phát sinh vụ việc, cần có đầu mối trực tiếp tại nước tiếp nhận để kịp thời phối hợp xử lý, hỗ trợ người lao động và làm việc với các cơ quan, tổ chức liên quan. Bởi các chương trình hợp tác giữa địa phương của Việt Nam với địa phương nước ngoài đều có cơ chế bố trí hoặc thuê đơn vị đại diện làm đầu mối. Song nhiều doanh nghiệp dịch vụ hiện chưa có tổ chức hoặc người đại diện trực tiếp tại nước sở tại.
Do vậy, đại biểu đề nghị, cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp trong quản lý, hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động làm việc ở nước ngoài (Điều 26) hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể, bảo đảm có đầu mối đủ năng lực để thực hiện hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Tiền kiểm chuyển sang thông báo chỉ có ý nghĩa khi có cơ chế hậu kiểm theo rủi ro, minh bạch
Các đại biểu Quốc hội cũng đánh giá cao việc dự thảo luật bám sát yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu, ĐBQH Tạ Thị Yên (Điện Biên) cho rằng, không nên chỉ nhìn việc sửa đổi các quy định là câu chuyện đơn thuần về thủ tục hành chính. Đằng sau mỗi bộ hồ sơ là người lao động phải bỏ ra chi phí không nhỏ, xa gia đình để làm việc trong môi trường khác biệt về pháp luật, văn hóa và điều kiện sinh hoạt, đồng thời có thể đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro.

ĐBQH Tạ Thị Yên (Điện Biên) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh
Theo đại biểu, hiệu quả của lần sửa đổi này cần được đánh giá qua ba tiêu chí: thủ tục có thực sự được cắt giảm hay không; những kẽ hở trong tuyển chọn, thu tiền và quản lý doanh nghiệp có được khắc phục hay không; và khi quyền lợi của người lao động bị xâm hại thì có xác định rõ trách nhiệm của các bên hay không.
Đối với quy định tại Điều 31 và Điều 34 chuyển một số thủ tục của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, tổ chức và cá nhân đầu tư ra nước ngoài từ cơ chế chấp thuận sang thông báo, đại biểu Tạ Thị Yên bày tỏ đồng tình về chủ trương cải cách, song đề nghị làm rõ cơ chế kiểm soát sau thông báo và hậu quả pháp lý.
Đại biểu đặt vấn đề: nếu qua dữ liệu hoặc phản ánh phát hiện hợp đồng không bảo đảm quyền lợi tối thiểu của người lao động, địa bàn có rủi ro cao hoặc doanh nghiệp có lịch sử vi phạm thì cơ quan nào có thẩm quyền yêu cầu bổ sung hồ sơ, tạm dừng hoặc không cho đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài? Trường hợp hết thời hạn mà cơ quan nhà nước không có ý kiến thì doanh nghiệp có được thực hiện ngay hay vẫn phải chờ? Nếu cơ quan tiếp nhận vẫn thẩm định toàn bộ hồ sơ như trước nhưng chỉ thay đổi tên thủ tục thành "thông báo" thì cải cách sẽ chỉ mang tính hình thức.

Các đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ 12
Từ đó, đại biểu Tạ Thị Yên đề nghị bổ sung nguyên tắc hậu kiểm trên cơ sở mức độ rủi ro, lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp, thị trường, ngành nghề và thông tin phản ánh của người lao động; đồng thời giao Chính phủ quy định tiêu chí phân loại rủi ro, cơ chế cảnh báo, thẩm quyền tạm dừng và thời hạn xử lý. Theo đại biểu, cách tiếp cận này vừa giảm thủ tục đối với doanh nghiệp chấp hành tốt, vừa tập trung nguồn lực quản lý vào những nơi có nguy cơ cao.
Cùng với cơ chế hậu kiểm, đại biểu đề nghị rà soát Điều 18, Điều 23 và Điều 26 theo hướng doanh nghiệp phải công khai, cập nhật trên cơ sở dữ liệu tổng chi phí dự kiến người lao động phải trả, các khoản do phía nước ngoài chi trả hoặc hỗ trợ và cấp đầy đủ chứng từ cho người lao động. Minh bạch chi phí là giải pháp trực tiếp, hiệu quả nhằm hạn chế tình trạng thu tiền ngoài hợp đồng và môi giới trái phép.

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 12
Đại biểu Tạ Thị Yên cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ, bảo vệ, di chuyển hoặc đưa người lao động về nước khi xảy ra chiến sự, thiên tai, dịch bệnh hoặc các tình huống đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe; đồng thời xác lập cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại.
Đối với cơ sở dữ liệu, đại biểu nhấn mạnh cần quán triệt nguyên tắc dữ liệu đã có thì không yêu cầu người lao động và doanh nghiệp cung cấp lại; xác định rõ trách nhiệm cập nhật, kiểm tra, chỉnh sửa, lưu vết dữ liệu, từng bước xây dựng và liên thông cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, hỗ trợ và bảo vệ người lao động. Theo đại biểu, chuyển đổi số phải thực sự giúp giảm giấy tờ, thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp.
Thanh Hải; Ảnh: Lâm Hiển
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
6 giờ trước
2 giờ trước
32 phút trước
5 phút trước
9 phút trước
11 phút trước
25 phút trước
34 phút trước
39 phút trước
40 phút trước
50 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước