Theo đuổi năng suất hay giá trị cho nông nghiệp?

Khai thác lợi thế khác biệt để nâng cao giá trị
Lợi thế lớn của Việt Nam nằm ở sự đa dạng về khí hậu, thổ nhưỡng, hệ sinh thái, giống bản địa, phương thức canh tác và bản sắc văn hóa của từng vùng miền. Một sản phẩm nông nghiệp chứa đựng giá trị của vùng đất, nguồn nước, giống cây con, kinh nghiệm và tri thức được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Khi những yếu tố này được nhận diện, bảo vệ và chuyển hóa thành chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu và câu chuyện văn hóa, giá trị sản phẩm sẽ vượt xa giá trị vật chất đơn thuần. Nói cách khác, chúng ta không chỉ bán nông sản mà còn bán giá trị của vùng đất và bản sắc của cộng đồng tạo ra sản phẩm đó.
Mô hình tôm - cua - lúa ở vùng bán đảo Cà Mau là một ví dụ. Người dân duy trì sản xuất thuận tự nhiên, một vụ lúa kết hợp với một vụ tôm, cua. Năng suất lúa có thể không cao, nhưng giống tốt, sản lượng giới hạn và đặc tính gắn với vùng đất giúp tạo giá trị cao hơn.
Cây lúa đồng thời cải thiện môi trường đất, nước cho vụ thủy sản; hệ sinh thái lúa, tôm, cua lại bổ sung dưỡng chất cho đất, hình thành vòng tuần hoàn tự nhiên và giảm phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp, hóa chất và vốn đầu tư.
Tình trạng “được mùa, mất giá” vẫn lặp lại ở nhiều mặt hàng; sản lượng tăng nhưng thu nhập của nông dân không tăng tương ứng. Khi sản phẩm thiếu khác biệt, gia tăng sản lượng chỉ làm nguồn cung lớn hơn và sức ép giảm giá mạnh hơn, trong khi người nông dân vẫn là chủ thể gánh phần lớn rủi ro nhưng ít có khả năng quyết định giá bán.
Cách nuôi cua mật độ thấp cũng thể hiện một tư duy đáng chú ý. Khi giá thị trường chưa thuận lợi, người dân có thể chưa thu hoạch mà tiếp tục để cua lớn tự nhiên, chờ thời điểm nguồn cung khan hiếm hơn.
Khi bán, cua vừa lớn hơn vừa có giá cao hơn. Đây không đơn thuần là kỹ thuật sản xuất, mà là tư duy chủ động tạo sự khan hiếm và lựa chọn thời điểm để tối ưu hóa giá trị. Đó chính là năng lực định giá mà nông nghiệp Việt Nam cần hướng tới.
Bảo tồn khác biệt để tạo năng lực định giá
Từ đó, cũng cần xem xét lại quan niệm hiện đại hóa nông nghiệp phải đồng nghĩa với tích tụ đất đai ngày càng lớn và sản xuất ngày càng nhiều. Tích tụ ở mức hợp lý là cần thiết để ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất hiệu quả, nhưng nếu tuyệt đối hóa quy mô sẽ dễ tạo ra những hệ quả về sinh kế, bất bình đẳng và sự bền vững của cộng đồng nông thôn.
Quan trọng hơn, ngay cả khi hình thành những vùng sản xuất lớn, Việt Nam vẫn khó cạnh tranh bằng quy mô với các quốc gia có lợi thế vượt trội.
Con đường phù hợp hơn là phát huy lợi thế khác biệt. Việt Nam đang sở hữu một kho tài sản rất lớn từ giống lúa, chè, cà phê, cây ăn trái đến thủy sản, dược liệu và nhiều sản phẩm bản địa. Thế nhưng, tài sản này đang có nguy cơ mai một khi giống bị pha tạp, tri thức truyền thống mất dần và sản phẩm ngày càng bị đồng nhất hóa trong quá trình chạy theo năng suất.
Đó không chỉ là mất mát về đa dạng sinh học và văn hóa mà còn là mất mát về kinh tế. Một giống đặc hữu, một phương thức canh tác truyền thống hay một hệ sinh thái riêng có chính là tài sản vô hình.
Khi được bảo vệ, chúng tạo ra sự khác biệt và khan hiếm; khi bị pha loãng, sản phẩm lại phải quay về cạnh tranh bằng giá. Vì vậy, bảo tồn giống bản địa cần được nhìn nhận như bảo vệ một bí quyết công nghệ hay tài sản trí tuệ.
Nông nghiệp Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy “sản xuất nhiều hơn” sang “tạo giá trị cao hơn”. Điều đó không có nghĩa xem nhẹ năng suất, mà đặt năng suất trong một hệ mục tiêu rộng hơn gồm chất lượng, hiệu quả, khả năng định giá, thu nhập của người sản xuất và tính bền vững của hệ sinh thái.
Thước đo cuối cùng không chỉ là bao nhiêu tấn/hecta, mà là bao nhiêu giá trị gia tăng được tạo ra trên đất đai, lao động và bao nhiêu phần giá trị đó thực sự thuộc về người nông dân.
Muốn vậy, cần bảo vệ giống bản địa, phát triển sản xuất thuận tự nhiên và kinh tế tuần hoàn, xây dựng chỉ dẫn địa lý, chuẩn hóa chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu, bảo vệ tài sản trí tuệ và xây dựng thương hiệu cho từng vùng sản phẩm.
Đặc biệt, mỗi sản phẩm đặc hữu cần được gắn với câu chuyện về vùng đất, con người và văn hóa. Khi bản sắc trở thành một phần của sản phẩm, nó cũng trở thành một phần của giá trị kinh tế.
Hợp tác xã kiểu mới có vai trò quan trọng trong quá trình này. Mục tiêu không phải là xóa bỏ các hộ sản xuất nhỏ để hình thành những trang trại khổng lồ, mà là liên kết họ bằng giống chung, tiêu chuẩn chung, chỉ dẫn địa lý, thương hiệu và thị trường chung. Đó là cách biến quy mô nhỏ về đất đai thành quy mô lớn về tổ chức và thị trường.
Việt Nam khó tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn nếu chỉ chạy theo quy mô, sản lượng và giá thành, bởi khó sánh với những nền nông nghiệp trang trại lớn, cơ giới hóa cao và tích tụ đất đai từ lâu. Thay vì cố cạnh tranh bằng cái chúng ta không có lợi thế, cần khai thác sâu hơn những giá trị riêng có của nông nghiệp.
Sau cùng, vấn đề không phải là lựa chọn tuyệt đối giữa năng suất và giá trị, mà là xác lập lại thứ tự ưu tiên: năng suất phải phục vụ giá trị. Giữ được giống đặc hữu là giữ được khác biệt; giữ được phương thức sản xuất phù hợp với tự nhiên là giữ được chất lượng; giữ được bản sắc vùng đất là giữ được sự khan hiếm và năng lực định giá.
Khi đó, bài toán của nông nghiệp Việt Nam là làm sao để thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn cho những giá trị riêng có của Việt Nam. Đó mới là nền tảng để nâng cao thu nhập của người nông dân và xây dựng một nền nông nghiệp cạnh tranh bằng chất lượng, bản sắc và giá trị bền vững.
TS. HUỲNH THANH ĐIỀN
1 giờ trước
1 ngày trước
3 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
9 ngày trước
9 ngày trước
10 ngày trước
10 ngày trước
10 ngày trước
10 ngày trước
11 ngày trước
9 giờ trước
1 giờ trước
22 phút trước
Vừa xong
1 phút trước
5 phút trước
14 phút trước
17 phút trước
22 phút trước
22 phút trước
24 phút trước