🔍
Chuyên mục: Tài chính

Tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn, nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực

12 giờ trước
Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến lên tới 38 - 39 triệu tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn, đa dạng hóa kênh huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Bài toán vốn cho tăng trưởng

Nhu cầu huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về mở rộng các kênh dẫn vốn, hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trong đó, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường vốn và tháo gỡ những điểm nghẽn trong huy động nguồn lực xã hội là những nhiệm vụ trọng tâm.

Phát biểu tại hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” sáng 22/10, TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng cao đã được xác định trong Kết luận 18 và các nghị quyết, kết luận của Trung ương. Để hiện thực hóa mục tiêu này, vấn đề quan trọng không chỉ là huy động đủ nguồn lực tài chính, mà còn phải bảo đảm dòng vốn được phân bổ và sử dụng hiệu quả.

TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phát biểu tại hội thảo.

Theo các kịch bản tăng trưởng, tổng vốn đầu tư cần huy động trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 38 - 39 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi mức 17,4 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó, vốn đầu tư Nhà nước dự kiến đạt 12,5 triệu tỷ đồng, so với 4,8 triệu tỷ đồng của giai đoạn trước; riêng vốn đầu tư công khoảng 8,3 - 8,5 triệu tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 3,1 triệu tỷ đồng.

Cùng với đó, vốn đầu tư ngoài Nhà nước cần đạt khoảng 20,4 triệu tỷ đồng, so với 9,8 triệu tỷ đồng của 5 năm trước; vốn đầu tư khu vực FDI dự kiến tăng từ 2,8 triệu tỷ đồng lên 5,6 triệu tỷ đồng. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt gần 20 triệu tỷ đồng, so với khoảng 11,3 triệu tỷ đồng của giai đoạn trước.

Quy mô vốn cần huy động cho thấy áp lực lớn đối với cả nguồn lực ngân sách và ngoài ngân sách, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ nhằm mở rộng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Nhìn lại tình hình kinh tế, tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt khoảng 9,01%, riêng quý III đạt 9,75%. Tuy nhiên, tăng trưởng cao cũng đặt ra thách thức về cân đối nguồn vốn và thanh khoản ngân hàng. Trong 9 tháng, dư nợ tín dụng tăng 9,23% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn bằng đồng Việt Nam tăng 10,5%.

Đáng chú ý, khoảng 80% nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi gần 50% dư nợ tín dụng là trung và dài hạn. Sự chênh lệch kỳ hạn này tạo áp lực đối với khả năng cung ứng vốn dài hạn của hệ thống ngân hàng.

Thời gian qua, chính sách tài khóa và tiền tệ được phối hợp tương đối đồng bộ nhằm hỗ trợ tăng trưởng, đồng thời kiểm soát lạm phát và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Dù vậy, việc tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng sẽ gây khó khăn cho mục tiêu huy động vốn trong những năm tới.

Khơi thông các kênh dẫn vốn

Từ thực tế hiện nay, TS. Nguyễn Đức Hiển đề cập một số kiến nghị như đẩy nhanh tăng vốn cho các ngân hàng thương mại Nhà nước, tạo thuận lợi để các ngân hàng tiếp cận nguồn vốn quốc tế, đồng thời kiểm soát cạnh tranh lãi suất huy động. Đây là những vấn đề cần được đánh giá thận trọng, trên cơ sở cân đối giữa yêu cầu tăng trưởng, chi phí vốn và an toàn hệ thống.

TS. Nguyễn Đức Hiển cho rằng, cần tiếp tục phát huy vai trò của nhà đầu tư tổ chức và phát triển ngành quản lý quỹ. Trong bối cảnh môi trường đầu tư ngày càng cải thiện, cùng với các hiệp định thương mại tự do đã ký kết, Việt Nam có thêm điều kiện để mở rộng quy mô ngành quản lý quỹ, thu hút dòng vốn dài hạn. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế khai thác hiệu quả nguồn lực từ Quỹ Bảo hiểm xã hội và các quỹ tài chính khác, gắn với yêu cầu quản lý rủi ro phù hợp.

Bên cạnh tín dụng ngân hàng, phát triển thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ nợ, được xác định là hướng đi quan trọng để đa dạng hóa nguồn lực.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng mở ra cơ hội thu hút dòng vốn quốc tế, nhưng cũng đòi hỏi tiếp tục cải cách hạ tầng, cơ chế giao dịch và điều kiện tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho dòng vốn ngoại, phát triển công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là khắc phục những hạn chế về minh bạch thông tin, xếp hạng tín nhiệm và bảo vệ nhà đầu tư. Phát triển thị trường trái phiếu phải đi đôi với nâng cao trách nhiệm của tổ chức phát hành và nhà đầu tư, tạo nền tảng cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn.

Bên cạnh các kênh truyền thống, việc phát triển mô hình kết nối ngân hàng với doanh nghiệp được xem là giải pháp đa dạng hóa nguồn vốn, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần đơn giản hóa quy trình và giảm chi phí tiếp cận tín dụng.

Đối với doanh nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, khó khăn chủ yếu nằm ở việc định giá và sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế định giá, quản lý rủi ro và mở rộng khả năng tiếp cận vốn.

Ở kênh quốc tế, các phương án phát hành trái phiếu Samurai tại Nhật Bản và huy động vốn cho hạ tầng đang được nghiên cứu nhằm bổ sung nguồn lực dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế để chính quyền địa phương chủ động tiếp cận các nguồn vốn vay, kể cả vốn quốc tế, phục vụ đầu tư phát triển, giảm tâm lý trông chờ vào ngân sách cấp trên.

Một nguồn lực quan trọng khác đến từ đất đai, các dự án tồn đọng và nguồn tiền nhàn rỗi trong dân, bao gồm vàng, ngoại tệ. Việc huy động những nguồn lực này cần tuân thủ nguyên tắc thị trường, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người cung ứng vốn.

Đặc biệt, việc tiếp tục cải cách thủ tục hành chính và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý có ý nghĩa quan trọng trong khơi thông nguồn lực đầu tư. Thực tế cho thấy, một số dự án, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, còn gặp khó khăn về thủ tục triển khai, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút dòng vốn đầu tư.

Từ những vấn đề trên, TS. Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh yêu cầu nhận diện chính xác các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế huy động và phân bổ vốn. Mục tiêu không chỉ là gia tăng quy mô nguồn lực mà còn phải đưa dòng vốn vào đúng ngành, đúng lĩnh vực, nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Thu Hương

TIN LIÊN QUAN
































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ