🔍
Chuyên mục: Tài chính

700.000 tỷ đồng tín dụng, doanh nghiệp vẫn chờ vốn

1 giờ trước
Quy mô tín dụng lớn chưa đồng nghĩa dòng tiền đã thực sự đến với doanh nghiệp. Khi chi phí vốn còn cao, khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế và thời điểm giải ngân có thể quyết định hiệu quả kinh doanh, câu hỏi quan trọng không chỉ là có bao nhiêu vốn, mà là bao nhiêu vốn được giải ngân từ các kênh khác ngoài ngân hàng đúng lúc và đến đúng nơi cần vốn.

Tiền đắt, vốn vẫn thiếu

Tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp, trong khi thị trường vốn chưa đủ sức chia sẻ nhu cầu vốn trung và dài hạn. Khi chi phí huy động của ngân hàng tăng, bài toán giảm lãi suất cho vay càng trở nên khó khăn.

Chia sẻ tại một diễn đàn ở Tp.HCM hồi cuối tuần qua, TS. Trần Du Lịch cho rằng không thể tiếp tục đặt phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế lên hệ thống ngân hàng thương mại. Theo ông, cần phát triển đồng thời các kênh vốn khác để giảm áp lực cho tín dụng ngân hàng. 

“Không có nền kinh tế nào mà toàn bộ nguồn vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư, kinh doanh lại chỉ dựa vào một kênh duy nhất là hệ thống ngân hàng thương mại. Ngân hàng phù hợp với việc cung cấp vốn ngắn hạn và một phần vốn trung hạn. Còn nhu cầu vốn trung và dài hạn cần được đáp ứng thông qua thị trường vốn và các định chế tài chính khác”. 

Tín dụng chỉ tạo ra tác động kinh tế khi dòng tiền đi vào sản xuất.

Theo TS. Trần Du Lịch, Việt Nam từng có giai đoạn dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Thị trường vốn được kỳ vọng chia sẻ nguồn lực này, song quá trình phát triển gặp nhiều vấn đề. Trong ngắn hạn, tín dụng ngân hàng vẫn khó thay thế. Vấn đề nằm ở giá vốn. 

TS. Trần Du Lịch cho biết nếu ngân hàng huy động vốn kỳ hạn dài với lãi suất khoảng 8-8,5%, rất khó cho vay ở mức 9-10%, bởi ngân hàng còn phải tính chi phí hoạt động, dự phòng rủi ro và các khoản chi phí liên quan.  

Trong khi đó, doanh nghiệp lại đang chịu sức ép từ chi phí đầu vào. Theo ông, chi phí nhân công tại một số nơi tăng tới 50%, vật tư tăng khoảng 20-30%. Khi chi phí sản xuất tăng, khả năng hấp thụ lãi suất cao của doanh nghiệp giảm xuống. 

Nếu lãi suất cho vay lên tới 14-15%, theo TS. Trần Du Lịch, rất ít ngành sản xuất, kinh doanh có thể hoạt động bình thường.   

Ở phía ngân hàng, ông Từ Tiến Phát - Tổng giám đốc ACB, cho rằng doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc lựa chọn cấu trúc tài chính. Một khoản vay ngân hàng vẫn là công cụ quan trọng, nhưng không phải giải pháp duy nhất.  

“Doanh nghiệp không nên chỉ sử dụng một phương thức duy nhất là vay tín dụng ngân hàng theo cách truyền thống. Các ngân hàng hiện nay có thể tư vấn nhiều giải pháp tài chính khác nhau, phù hợp với từng nhu cầu và tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên chủ động trao đổi với ngân hàng để tìm ra cấu trúc nguồn vốn phù hợp hơn”.

Theo ông Phát, vai trò của ngân hàng cũng cần mở rộng sang tư vấn tài chính, quản trị dòng tiền và tối ưu nguồn lực. Khi doanh nghiệp có cấu trúc vốn phù hợp hơn, áp lực tài chính có thể được giảm bớt. Nhưng một cấu trúc vốn tốt vẫn chưa giải quyết được câu hỏi quan trọng nhất với doanh nghiệp đang cần tiền. Khi nào tiền thực sự được giải ngân?

Hạn mức lớn, dòng tiền chưa chắc lớn

Ông Nguyễn Quốc Kỳ - Chủ tịch HĐQT Vietravel, cho rằng khoảng cách giữa hạn mức tín dụng và dòng tiền thực tế cần được nhìn rõ hơn. Một doanh nghiệp có hạn mức tín dụng 1.000 tỷ đồng chưa có nghĩa doanh nghiệp có ngay 1.000 tỷ đồng để sử dụng. Ngân hàng có thể giải ngân theo từng đợt, trong khi nhu cầu vốn của doanh nghiệp phát sinh liên tục.

Tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp.

“Một doanh nghiệp có hạn mức tín dụng 1.000 tỷ đồng không có nghĩa là doanh nghiệp có ngay 1.000 tỷ đồng trong tài khoản để sử dụng. Nếu ngân hàng giải ngân theo từng đợt, doanh nghiệp có thể chỉ nhận được một phần vốn mỗi ngày. Trong khi đó, với hoạt động nhập hàng, thời gian giải ngân có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá mua, tỷ giá và chi phí vốn”, ông Kỳ nói.

Với doanh nghiệp nhập hàng, thời điểm nhận vốn có thể quyết định giá mua và hiệu quả của cả giao dịch. Một khoản vốn được cấp nhưng đến chậm có thể không còn nhiều ý nghĩa nếu cơ hội kinh doanh đã qua. Đây là điểm đáng lưu ý với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhu cầu vốn của nhóm này thường gắn với chu kỳ kinh doanh ngắn. Tiền có thể cần cho từng lô hàng, từng đơn hàng hoặc từng kỳ thanh toán với nhà cung cấp. 

Từ thực tế này, ông Kỳ đề xuất nghiên cứu một quỹ quy mô khoảng 200.000 - 250.000 tỷ đồng dành cho các doanh nghiệp SME có phương án kinh doanh tốt, khả năng tạo tác động lan tỏa và đóng góp thực chất cho tăng trưởng. Ông cũng đề xuất cơ chế hỗ trợ lãi suất khoảng 2 điểm phần trăm với những doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí rõ ràng.  

Theo ông Kỳ, khi đánh giá các gói hỗ trợ hoặc những dự án quy mô lớn, cần lượng hóa tác động đối với GDP, việc làm và sức lan tỏa. Hiệu quả của dòng vốn cần được nhìn từ những giá trị tạo ra sau khi tiền được đưa vào nền kinh tế.  

Với một gói tín dụng quy mô 700.000 tỷ đồng, vì vậy, phần đáng quan tâm nhất nằm ở phía sau con số. Bao nhiêu vốn được giải ngân thực tế, bao nhiêu doanh nghiệp tiếp cận được, mức lãi suất họ thực trả ra sao và nguồn tiền được đưa vào hoạt động nào. 

Tín dụng chỉ tạo ra tác động kinh tế khi dòng tiền đi vào sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tạo thêm việc làm. Với doanh nghiệp, thời điểm nhận vốn có thể quyết định một cơ hội kinh doanh. Với ngân hàng, mỗi khoản vay phải nằm trong giới hạn rủi ro có thể kiểm soát. 700.000 tỷ đồng vì thế mới chỉ là quy mô của nguồn lực. Hiệu quả của dòng vốn sẽ được quyết định ở khâu giải ngân và khả năng biến đồng vốn thành hoạt động kinh tế thực.

Thanh Ngân

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ