🔍
Chuyên mục: Tài chính

Giải bài toán vốn dài hạn cho tăng trưởng cao

1 giờ trước
Tăng trưởng cao kéo theo nhu cầu đầu tư lớn cho hạ tầng, năng lượng, công nghiệp chiến lược, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, cấu trúc cung ứng vốn hiện vẫn dựa nhiều vào ngân hàng, trong khi nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn.

Giải bài toán vốn dài hạn không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên hệ thống ngân hàng

Sự lệch pha giữa nguồn vốn và nhu cầu

Theo NHNN, khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, chỉ 20% là vốn trung, dài hạn. Cơ cấu này chủ yếu phù hợp với cho vay ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay trung, dài hạn của doanh nghiệp rất lớn. Vì vậy, từng TCTD phải kiểm soát chặt chẽ an toàn của chính mình, đồng thời cân bằng yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp với nhiệm vụ bảo đảm an toàn hệ thống.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho rằng, để đạt tăng trưởng GDP 10%, tỷ lệ đầu tư cần đạt khoảng 40% GDP. Trong khi đó, theo tính toán độc lập của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước chỉ đạt 36,5%. Khoảng cách này cho thấy tích lũy trong nước khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn của nền kinh tế, nhất là khi nhu cầu tín dụng cho nhiều dự án lớn dự kiến tăng mạnh.

Những số liệu như vậy cho thấy, nguồn vốn tín dụng vẫn rất quan trọng, nhưng không thể gánh toàn bộ nhu cầu. Trong khi phần lớn tiền gửi có kỳ hạn ngắn, nhiều khoản đầu tư cho hạ tầng, năng lượng và đổi mới công nghệ kéo dài nhiều năm. Việc dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn vì thế phải được các TCTD giữ trong giới hạn an toàn. Khi nhu cầu tín dụng tăng nhanh hơn khả năng huy động, chi phí vốn đầu vào và lãi suất cho vay sẽ chịu sức ép. Việc bảo đảm đủ vốn cho tăng trưởng nhưng không làm gia tăng rủi ro hệ thống vì vậy ngày càng áp lực hơn.

Vấn đề không nằm ở hoạt động huy động và cho vay của ngân hàng, mà thực tế đặt ra yêu cầu cấp bách chúng ta phải hoàn thiện cấu trúc thị trường, đưa từng kênh cung ứng vốn về đúng chức năng. Tín dụng ngân hàng phù hợp với vốn lưu động, tài trợ thương mại, nhu cầu ngắn và trung hạn. Các dự án có thời gian hoàn vốn dài cần được chia sẻ bởi thị trường trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và các công cụ huy động dài hạn khác.

Các thống kê cho thấy, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện mới khoảng 10% GDP, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực; quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng cũng chưa phát huy đầy đủ vai trò. Trong đó, nhiều trái phiếu doanh nghiệp phát hành hiện nay chưa tạo được sự yên tâm cho nhà đầu tư về tài sản đảm bảo, chẳng hạn bất động sản hoặc tài sản hình thành từ vốn vay. Trong khi đó, các TCTD có thể nhận những tài sản này làm tài sản đảm bảo. Để giải quyết vấn đề này, ngành Ngân hàng có thể tham gia hỗ trợ thông qua chính sách liên quan đến nhận tài sản đảm bảo của các đơn vị phát hành. Nếu đồng bộ cả ngành Ngân hàng và Tài chính sẽ tạo động lực cho trái phiếu doanh nghiệp phát triển.

Các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu hay chuyển đổi xanh… cũng có thời gian thu hồi vốn dài, nên khó chỉ dựa vào những khoản vay kỳ hạn ngắn. Nếu không hình thành được nguồn vốn tương ứng, doanh nghiệp sẽ phải liên tục tái cấp vốn, còn ngân hàng chịu thêm áp lực thanh khoản. Phát triển các kênh vốn dài hạn cũng giúp ngân hàng tập trung tốt hơn vào vốn lưu động và tài trợ sản xuất.

Không để dòng tiền bị ách tắc

Bài toán vốn của doanh nghiệp không chỉ nằm ở khả năng vay thêm. Một phần dòng tiền đang bị ách tắc tại khâu hoàn thuế, thanh toán dự án, quyết toán hợp đồng hoặc trong những thủ tục kéo dài. Khi dòng tiền chậm quay vòng, doanh nghiệp buộc phải vay bù, làm tăng chi phí tài chính dù vẫn có đơn hàng và doanh thu.

Theo ghi nhận và phản ánh tại báo cáo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý II của EuroCham, tình trạng chậm hoàn thuế giá trị gia tăng tiếp tục là một trong những yếu tố “gây bất ổn về tài chính và ảnh hưởng đến dòng vốn lưu động của doanh nghiệp”. Về vấn đề này, đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, một số doanh nghiệp phản ánh dòng tiền vẫn bị ách tắc tại khâu hoàn thuế, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng đầu vào. Có trường hợp doanh nghiệp thực hiện giao dịch có thật nhưng đối tác sau đó bỏ trốn, khiến hồ sơ hoàn thuế bị vướng và khoản tiền thuộc về doanh nghiệp tiếp tục bị treo.

Tình trạng tương tự cũng có thể phát sinh ở các dự án sử dụng vốn đầu tư công. Khi khối lượng đã hoàn thành nhưng thanh quyết toán chậm, nhà thầu vẫn phải trả lương, chi phí vật liệu và lãi vay; vòng quay vốn vì thế kéo dài, chi phí tăng lên. Bên cạnh đó, nếu để xảy ra ách tắc về đất đai, xác định giá đất hoặc giải phóng mặt bằng… cũng làm giải ngân vốn chậm, rủi ro chi phí tăng.

Bởi vậy, cùng với đặt câu hỏi hệ thống ngân hàng có thể cho vay thêm bao nhiêu, cũng cần trả lời một câu hỏi khác: phần dòng tiền nào của doanh nghiệp đang bị mắc trong các quy trình hành chính và thanh toán? Giải phóng những dòng tiền này có thể tạo ra nguồn lực ngay lập tức mà không làm tăng thêm dư nợ tín dụng.

Xử lý kịp thời hoàn thuế, thanh quyết toán vốn đầu tư công và các nghĩa vụ thanh toán của Nhà nước không chỉ là yêu cầu cải cách thủ tục, mà còn trực tiếp góp phần khơi thông dòng tiền cho doanh nghiệp. Ngược lại, việc chậm thanh toán, hoàn thuế, giải ngân hoặc xử lý thủ tục sẽ tạo thêm áp lực lên vốn lưu động, làm tăng chi phí và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, giải bài toán vốn cần đồng thời mở rộng các nguồn vốn mới và nâng hiệu quả sử dụng, quay vòng nguồn vốn hiện có.

Phát triển hệ sinh thái vốn thay vì chỉ mở rộng tín dụng

Giải bài toán vốn dài hạn đòi hỏi ngân hàng, thị trường vốn và các trung gian tài chính bổ trợ cho nhau; không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên hệ thống ngân hàng. Trong đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần minh bạch, lành mạnh và phân loại rủi ro tốt hơn, trở thành lựa chọn khả thi cho doanh nghiệp có dự án, dòng tiền và năng lực trả nợ rõ ràng. Các quỹ đầu tư, nhà đầu tư tổ chức và thị trường cổ phiếu cũng cần được phát triển để cung cấp nguồn vốn chia sẻ rủi ro.

Mở rộng thị trường trái phiếu không thể bằng cách hạ thấp điều kiện an toàn, mà phải gắn với chất lượng công bố thông tin, trách nhiệm của nhà phát hành, tổ chức tư vấn, cơ chế liên quan đến tài sản đảm bảo và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Khi các vấn đề được xử lý đồng bộ, niềm tin được củng cố, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện để phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, tín dụng cũng cần chuyển từ phụ thuộc nhiều vào tài sản đảm bảo sang đánh giá dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu và dữ liệu kinh doanh. Đây là hướng mở vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thị trường nhưng thiếu tài sản đảm bảo. Để cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu phục vụ đánh giá doanh nghiệp, hợp đồng, đơn hàng và khoản phải thu phải được kết nối, chia sẻ và xác thực. Xếp hạng tín nhiệm và khả năng đánh giá mô hình kinh doanh cũng cần được nâng lên để ngân hàng kiểm soát rủi ro mà không chỉ dựa vào tài sản thế chấp. Cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng cũng cần được phát huy.

Tăng trưởng cao cần nhiều vốn hơn, nhưng vốn cũng phải được phân bổ đúng kỳ hạn, đúng công cụ và quay vòng hiệu quả. Giải pháp không phải thay vốn ngân hàng bằng một kênh duy nhất khác, mà là xây dựng cấu trúc vốn đa tầng, trong đó mỗi nhu cầu được đáp ứng bằng nguồn phù hợp, đồng thời dòng tiền hợp pháp của doanh nghiệp được lưu chuyển thông suốt.

Đỗ Phạm

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ