🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Nông, lâm, thủy sản xuất siêu hơn 14 tỷ USD

13 phút trước
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ, giúp ngành này xuất siêu hơn 14,2 tỷ USD.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt 49,3 tỷ USD. Ảnh: Trần Trung

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 8 ước đạt 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước nhưng tăng 3,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7%.

Trong đó, nông sản đóng góp lớn nhất với 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%.

Một số nhóm hàng có tốc độ tăng cao hơn đáng kể. Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt gần 512 triệu USD, tăng 30%; đầu vào sản xuất 2,61 tỷ USD, tăng 64,8%. Xuất khẩu muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4%.

Rau quả tiếp tục là điểm sáng

8 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng gần 25% so với cùng kỳ. Trung Quốc là thị trường lớn nhất, chiếm 58,9% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả, tiếp đến là Mỹ 7,6% và Hàn Quốc 4,2%.

Thủy sản cũng duy trì đà tăng hai chữ số, đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản là ba thị trường lớn nhất, lần lượt chiếm 24%, 15,6% và 13,7% thị phần. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng hơn 37%, trong khi Mỹ và Nhật Bản lần lượt tăng 2,5% và 2,3%.

Gỗ và sản phẩm gỗ mang về 11,69 tỷ USD, tăng 5%. Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm gần một nửa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này, dù giá trị giảm 5,8% so với cùng kỳ. Ngược lại, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 46,4%, Nhật Bản tăng 5,8% và Mexico gấp 2,1 lần.

Nhóm sản phẩm chăn nuôi cũng ghi nhận mức tăng cao. Trong 511,9 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, sữa và sản phẩm sữa đạt 139,3 triệu USD, tăng 79,2%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ đạt 154,1 triệu USD, tăng 15,2%.

Ở nhóm hạt, Việt Nam xuất khẩu khoảng 190.100 tấn hạt tiêu, thu về 1,24 tỷ USD, tăng 14,5% về lượng và 9,6% về giá trị. Xuất khẩu hạt điều đạt 474.000 tấn, trị giá 3,35 tỷ USD, giảm 1,7% về lượng nhưng giá trị vẫn tăng 2%.

Cà phê và gạo chịu sức ép từ giá xuất khẩu giảm

Trái với đà tăng của rau quả và thủy sản, cà phê và gạo chịu sức ép từ giá xuất khẩu giảm. Cà phê xuất khẩu đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tăng 13,1% về lượng, nhưng kim ngạch giảm 9,1%, còn 6 tỷ USD. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 4.538 USD mỗi tấn, giảm gần 20%.

Xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá 2,86 tỷ USD, lần lượt giảm 6,3% và 11,9%. Giá xuất khẩu bình quân giảm 6%, còn 480,9 USD mỗi tấn. Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất, chiếm 43,2% thị phần. Kim ngạch sang thị trường này giảm 5,1%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng hơn 92%.

Một số mặt hàng khác cũng giảm. Xuất khẩu cao su đạt 1,86 tỷ USD, giảm 6,2%; chè đạt gần 143 triệu USD, giảm 2%; sắn và sản phẩm từ sắn đạt gần 837 triệu USD, giảm 2,5%.

Xét theo khu vực, châu Á tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 45,5% kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chủ lực của Việt Nam, tiếp đến là châu Mỹ 21,5% và châu Âu 13,4%. Xuất khẩu sang châu Á tăng 11,3%, châu Đại Dương tăng 16,4%, trong khi châu Phi giảm 18,3%.

Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản tiếp tục là ba thị trường lớn nhất, lần lượt chiếm 22,7%, 19,1% và 6,8% thị phần. Kim ngạch sang Trung Quốc tăng 22,1%, Nhật Bản tăng 2%, trong khi Mỹ giảm 0,4%.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu khoảng 35,06 tỷ USD hàng nông, lâm, thủy sản trong 8 tháng, tăng 8,1% so với cùng kỳ. Riêng tháng 8, nhập khẩu đạt 4,01 tỷ USD, giảm 9,9% so với tháng trước và 7,4% so với cùng kỳ.

Với xuất khẩu 49,31 tỷ USD và nhập khẩu 35,06 tỷ USD, nông, lâm, thủy sản xuất siêu khoảng 14,25 tỷ USD sau 8 tháng.

Lam Ngọc

TIN LIÊN QUAN














































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ